Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế Tham khảo

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế Tham khảo – Nhóm Sinh viên Trường Đại Học Kinh tế Quốc Dân

Thành tựu nổi bật nhất trong thời kỳ đổi mới ở Vn Có thể nói tới đó là Kinh tế

Về kinh tế

    Giai đoạn 1986 – 1990

Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển. Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 – 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát.

     Giai đoạn 1991 – 1995

Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái. Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức.

     Giai đoạn 1996 – 2000

Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế thời kỳ mới. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực. (giai đoạn 1997 – 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp. Đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách khốc liệt. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá.

     Giai đoạn 2001 – 2005

. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu. đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…

     Giai đoạn 2006 – 2010

tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Từ nhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). GDP bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008). Nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao.

    Giai đoạn 2010 – nay

Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế

Chất lượng tăng trưởng kinh tế dần dịch chuyển sang chiều sâu. Thể hiện ở mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn. Năng suất lao động (NSLĐ) ngày càng được cải thiện đáng kể. Cơ cấu kinh tế nước ta đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng. Đưa nước ta hội nhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới.. Điều này cho thấy nền kinh tế nước ta có độ mở ngày càng cao và tăng lên tương đối nhanh. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành kênh huy động vốn quan trọng. Cho sự phát triển kinh tế- xã hội.

Có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Hiện đại hóa, tạo thêm nhiều việc làm. nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ cho nền kinh tế. Đặc biệt, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Chúng ta cùng nhìn lại về dấu ấn 35 năm nền kinh tế của Vn đã tăng trưởng và trải qua

các giai đoạn ấn tượng về phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm 2020. Ta có thể thấy sự tăng lên của GDP, XUẤT nhập khẩu, vốn FDI, dự trữ hối đoái. Dấu mốc nền kinh tế đã đạt được là số hộ nghèo chỉ chiếm dưới 3%. Các Chỉ số về tăng trưởng bình quân( GDP, CPI), lạm phát. Xuất nhập khẩu đều được kiểm soát và ở mức tốt

Thành tựu thứ 2 là về Văn Hóa – Xã hội

Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế
  1. Về văn hóa

Năm 1987, Việt Nam tham gia Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa của UNESCO.. Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là mục tiêu và động lực của sự phát triển đã được khẳng định trong các văn kiện quan trọng của Đảng. Điều đó đã xoay chuyển nhận thức, tạo ra sự hồi sinh của nhiều giá trị truyền thống bị mai một, thậm chí từng bị lãng quên.

35 năm Đổi mới, văn hóa công quyền, văn hóa pháp luật, thị trường văn hóa, đặc biệt các chỉ số phát triển con người Việt Nam đã có nhiều bước tiến so với khu vực và thế giới

Giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng. Các tài năng văn hóa – nghệ thuật được

khuyến khích. Trong ngành điện ảnh, năm 2016, doanh thu khu vực doanh nghiêp ảnh đạt 11.073 tỷ đồng.

Việt Nam có tới 15 di sản văn hóa thế giới và 4 di sản tư liệu thế giới được UNESCO vinh danh:

Di sản văn hóa vật thể thế giới

  1. Quần thể di tích Cố đô Huế (được UNESCO công nhận ngày 11/12/1993)
  2.  Phố cổ Hội An (4/12/1999)
  3. Thánh địa Mỹ Sơn (1999)
  4. Hoàng thành Thăng Long (31/7/2010)
  5. Thành Nhà Hồ (27/6/2011)

Di sản văn hóa phi vật thể

  1. Nhã nhạc cung đình Huế (2003)
  2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (15/11/2005)
  3. Dân ca Quan họ (30/9/2009) Ca trù (2009)
  4. Hội Gióng (2010)
  5. Hát xoan Phú Thọ (2011)
  6. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012)
  7. Đờn ca tài tử (2013)
  8. Ví giặm Nghệ Tĩnh (27/11/2014). Di sản văn hóa hỗn hợp
  9. Quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình (23/6/2014) 4 di sản tư liệu thế giới
  10. Mộc bản triều Nguyễn (31/7/2009)
  11. Bia tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám (3/2010)
  12. Mộc bản Kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (2012)
  13. Châu bản triều Nguyễn

Về xã hội

GDP Đầu người:

GDP bình quân đầu người tính bằng USD (theo tỷ giá hối đoái) của Việt Nam năm 1988 chỉ đạt 86 USD/người/năm – là một trong những nước thấp nhất thế giới. Nhưng đã tăng gần như liên tục ở những năm sau đó. Giai đoạn 2005 – 2010 đạt 1.168 USD/người/năm. Nước ta đã ra khỏi nhóm nước thu thập thấp để trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp)

Lao động và việc làm:

Trung bình mỗi năm 1 – 1,2 triệu người lao động có công ăn việc làm. Những năm 2006 – 2010, tăng lên đến 1,6 triệu người. Công tác dạy nghề từng bước phát triển,

Công tác xóa đói giảm nghèo:

Tỷ lệ nghèo trên đầu người đã giảm mạnh từ 57% năm 1990 xuống còn 13,5% năm 2014. Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói. Về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015). Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm xuống dưới 3% năm 2020.

Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế

Giáo dục đào tạo:

Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2010, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Tỷ lệ người lớn biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm 1980 lên 90,3% năm 2007. Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99%. (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau Singapore).

Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên. Trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới, năm 2019 xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới. Tăng 12 bậc so với năm 2018. Lần đầu tiên, Việt Nam có 4 cơ sở giáo dục đại học được vào top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới.

Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe:

Chăm sóc sức khỏe nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Coi trọng cả về xây dựng thể chế, y tế dự phòng, y học cổ truyền, quản lý thuốc. Khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 73,7 tuổi năm 2020 . Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ qua. Hết năm 2020, có 87,96 triệu người tham gia BHYT, bao phủ 90,85% dân số.

Có hệ thống y tế hoàn chỉnh, tổ chức rộng khắp tới từng thôn, bản. Làm chủ được nhiều kỹ thuật công nghệ cao mang tầm thế giới như: ghép chi, tim, gan, thận… Kiểm soát được nhiều dịch bệnh nguy hiểm, trong đó có Covid-19. Chủ động nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh.

Công tác an sinh xã hội:

Đến nay, diện thụ hưởng chính sách an sinh xã hội ngày càng mở rộng. Mức hỗ trợ được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần của người dân,

đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Ngành Bảo hiểm xã hội đã giải quyết cho hơn 112,5 triệu lượt người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, các phong trào “Tương thân tương ái,” “Đền ơn đáp nghĩa,” do các cấp và các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể nhân dân tổ chức thực hiện đã đóng góp đáng kể an sinh xã hội nhất là người nghèo, vùng khó khăn.

Về quốc phòng an ninh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định và an ninh cho sự phát triển đất nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước, nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

  • Xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân

Đảng, Nhà nước, Quân đội tích cực đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở mang tính lưỡng dụng đáp ứng kịp thời cho thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới.

  • Hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội ngày càng được hoàn thiện

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng nĐảng đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, nhằm kịp thời thể chế hóa quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, như “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; “Chiến lược Quân sự Việt Nam”; “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; “Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia”. Nhà nước đã xây dựng, ban hành mới và bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh: Luật An ninh quốc gia, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

Tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

  • Hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả 

Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế

Đối ngoại quốc phòng, an ninh tiếp tục khẳng định là kênh quan trọng, cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, góp phần trực tiếp xây dựng lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Về đối ngoại

  • Năm 2018, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 188 nước trong tổng số 193 nước thành viên Liên hợp quốc.Đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước.
  • Nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị khu vực và thế giới, phát huy vai trò tích cực trong cộng đồng ASEAN. Việt Nam là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009.
  • Ngày 7-6-2019, Đại hội đồng Liên hiệp quốc bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu cao 192/193.
  • Năm 1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn kinh tế Á-Âu (ASEM).
  • Ngày 14-11-1998, Việt Nam gia nhập tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC năm 2006 và năm
  • Cùng với việc tăng cường ngoại giao nhà nước, quan hệ đối ngoại đảng và ngoại giao nhân dân được mở rộng, đã nâng cao vị thế, uy tín của nước ta tại các diễn đàn đa phương.

Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên XHCN

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: “chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam” và những khía cạnh nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được cụ thể:

  • Một là, nhận thức về mục tiêu và bản chất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng đầy đủ hơn ở Việt Nam

Hai là, nhận thức về nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của Đảng Cộng sản Việt Nam

  • Ba là, nhận thức về động lực của sự phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

– Bốốn là, nhận thức vềề thời kỳ quá độ và những đặc điểm của con đường quá độ, bỏ qua chềố độ tư bản chủ nghĩa tiềốn lền chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Năm là, nhn thc rõ hơn vềề mô hình và phương hướng áp dng chnghĩa xã hi nước ta

Ý nghĩa

< Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế >

Trước năm 1986, Việt Nam đang lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, chủ nghĩa xã hội đứng trước nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trong và có ý nghĩa lịch sử

to lớn

 

Một bài học sâu sắc được Đảng rút ra tại Đại hội VI là: “Đảng phải luôn luôn

xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo những quy luật khách quan…

Đảng ta đã tỏ rõ bản lĩnh của mình, chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc

đổi mới. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra đột phá lớn và toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới cho xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.

Thành công của sự nghiệp đổi mới gần 35 năm, không những giữ vững ổn định chính trị, giữ vững con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh chính trị thế giới hết sức phức tạp, đầy biến động mà còn đem lại những thành tựu quan trọng cho đất nước.

Từ một nước trước đổi mới còn khủng hoảng, trì trệ, lưu thông phân phối ách tắc, rối ren, hàng hóa, vật phẩm tiêu dùng khan hiếm, đời sống các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn, một bộ phận nhân dân nao núng, giảm sút niềm tin; sau đổi mới, đã thành một Việt Nam năng động, phát triển, chuyển đổi thành công sang mô hình và cơ chế quản lý kinh tế mới, có mức tăng trưởng kinh tế cao, liên tục trong nhiều năm, vị thế, uy tín, quan hệ ngoại giao ngày càng rộng mở và nâng cao, được đánh giá là quốc gia có môi trường chính trị ổn định, an ninh và an toàn, là địa chỉ tin cậy cho các nhà đầu tư quốc tế.

Bài tập Hội nhập kinh tế Quốc tế

Contact Me on Zalo