Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Chia sẻ đến tất cả các bạn học viên chuyên ngành Tôn giáo học một trong những danh sách Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo hay nhất hiện nay, để giúp đỡ các bạn học viên có thêm nhiều đề tài để lựa chọn cũng như để tham khảo thì các bạn không thể bỏ qua đề tài dưới đây được. Vì những Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo này đã được Tri Thức Panda cập nhập mới nhất cũng như hay nhất để các bạn không còn phải mất thời gian tìm kiếm đề tài nữa. Vậy đó là những đề tài nào, các bạn cùng tham khảo nhé.

MỤC LỤC BÀI VIẾT

Chuyên Mục 80 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo
Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo
  1. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Mối Quan Hệ Giữa Phật Giáo Và Tín Ngưỡng Dân Gian Việt Nam
  2. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Một Số Tư Tưởng Trong Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo Ở Miền Bắc Nước Ta Những Năm Đầu Thế Kỷ XX
  3. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Giới Luật Phật Giáo Trong Giáo Dục Đạo Đức Thanh Niên Việt Nam Hiện Nay
  4. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Văn Hóa Dân Gian Việt Nam
  5. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Một Số Ảnh Hưởng Của Tôn Giáo Đến Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Người Việt Hiện Nay
  6. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Đạo Đức Phật Giáo Và Ảnh Hưởng Của Nó Đến Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Ở Tỉnh Ninh Bình Hiện Nay
  7. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Vai Trò Của Phật Giáo Với Sự Nghiệp Xây Dựng Và Phát Triển Nhà Nước Phong Kiến Đại Việt
  8. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Phật Giáo Với Việc Củng Cố Liên Kết Cộng Đồng Làng – Xã Việt Nam Hiện Nay
  9. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Đạo Đức Phật Giáo Và Ảnh Hưởng Của Nó Đối Với Một Số Lĩnh Vực Đời Sống Xã Hội Việt Nam Hiện Nay
  10. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đối Với Đời Sống Văn Hóa, Tinh Thần Phụ Nữ Việt Nam Hiện Nay
  11. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Cộng Đồng Vatican II Và Sự Tác Động Của Nó Tới Công Giáo Ở Việt Nam
  12. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Mối Quan Hệ Giữa Phật Giáo Với Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Ở Khu Vực Đồng Bằng Bắc Bộ
  13. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Phật Giáo Đối Với Văn Hóa Việt Nam (Thời Lý – Trần)
  14. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học:  Ảnh Hưởng Của Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đối Với Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Người Việt Nam Hiện Nay
  15. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Sự Dung Hợp Phật Giáo Với Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt
  16. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tư Tưởng Bản Thể Luận Trong Triết Học Phật giáo
  17. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Mối Quan Hệ Giữa Đức Tin Và Lý Trí Trong Triết Học Tây Âu Trung Cổ
  18. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Tư Tưởng Của Phan Bội Châu Về Tôn Giáo, Tín Ngưỡng
  19. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Gia Đình Trong Nếp Sống Đạo Của Người Muslim
  20. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Sự Truyền Giáo Của Dòng Tên Ở Việt Nam Thế Kỷ XVII-XVIII
  21. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quan Điểm, Chính Sách Tôn Giáo Của Đảng Và Nhà Nước Và Thực Hiện Ở Tỉnh Phú Thọ Hiện Nay
  22. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Tư Tưởng Đạo Đức Trong Kinh Quran
  23. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Vai Trò Của Phật Giáo Trong Chính Sách Quân Chủ Thân Dân Dưới Triều Đại Nhà Lý
  24. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tìm Hiểu Nghi Lễ Thờ Cúng Của Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Ở Kiến An Hải Phòng
  25. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Việt Nam Và Giáo Hội Công Giáo Từ 1975 Đến Nay
  26. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học:  Sự Dung Thông Giữa Phật Giáo Với Tín Ngưỡng Cổ Truyền Việt Nam Thời Kỳ Đầu Du Nhập
  27. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đến Lối Sống Và Một Số Phong Tục Tập Quán Của Người Dân Việt Nam Hiện Nay
  28. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quan Niệm Đạo Đức Cơ Bản Trong Tân Ước
  29. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Đạo Tin Lành Đối Với Đời Sống Đồng Bào Dân Tộc Hmông Ở Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc
  30. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Cơ Sở Cho Sự Phát Triển Của Phật Giáo Ở Việt Nam Hiện Nay

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM:

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Gợi Ý 30 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Tôn Giáo Học – HOT

Gợi Ý 30 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Tôn Giáo Học
Gợi Ý 30 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Tôn Giáo Học
  1. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quản Lý Hoạt Động Tôn Giáo Ở Việt Nam hiện Nay – Thực Trạng Và Giải Pháp
  2. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Văn Hóa Phật Giáo Và Vấn Đề Bảo Tồn Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam Hiện Nay
  3. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Nghi Lễ Hầu Đồng Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Của Người Việt Và Những Vấn Đề Đặt Ra Hiện Nay
  4. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quan Niệm Về Vũ Trụ Và Nhân Sinh Trong Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt Ở Đồng Bằng Bắc Bộ
  5. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quản Lý Nhà Nước Đối Với Tôn Giáo Ở Tỉnh Thanh Hóa Hiện Nay
  6. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tín Ngưỡng Thành Hoàng Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
  7. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Nhân Sinh Quan Phật Giáo Đến Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Ở Huyện Chương Mỹ, Hà Nội
  8. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Giá Trị Của Nó Trong Đời Sống Người Việt Hiện Nay
  9. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Vai Trò Của Đạo Tin Lành Đối Với Quá Trình Hiện Đại Hóa Xã Hội Hàn Quốc
  10. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Và Đạo Giáo Đến Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Ở Đồng Bằng Bắc Bộ
  11. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Của Đạo Tin Lành Đối Với Đời Sống Tín Ngưỡng Người HMông Ở Miền Núi Phía Bắc Việt Nam
  12. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Sự Tích Hợp Văn Hóa Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Ở Việt Nam
  13. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tư Tưởng Nhập Thế Của Phật Giáo Thời Lý – Trần Và Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Đời Sống Xã Hội Việt Nam
  14. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Phật Giáo Việt Nam Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế
  15. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Vai Trò Của Người Phụ Nữ Theo Đạo Hồi Trong Xã Hội
  16. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Sự Biến Đổi Nghi Lễ Lên Đồng Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Của Người Việt Ở Đồng Bằng Bắc Bộ Hiện Nay
  17. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tịnh Độ Tông Và Biểu Hiện Của Nó Trong Phật Giáo Việt Nam Hiện Nay
  18. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tính Chính Trị Trong Đạo Islam
  19. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học:  Một Số Tư Tưởng Triết Học Trong Đại Trí Độ Luận
  20. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Nhân Sinh Quan Phật Giáo Trong Tứ Diệu Đế
  21. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Ảnh Hưởng Qua Lại Giữa Phật Giáo Và Phụ Nữ (Qua Nghiên Cứu Một Số Tỉnh Thành Phía Bắc Việt Nam)
  22. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Vận Động Tín Đồ Tôn Giáo Và Những Định Hướng Trong Công Tác Tôn Giáo
  23. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Đời Sống Tôn Giáo Trong Truyền Thông Mạng Công Giáo Ở Việt Nam Hiện Nay
  24. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Ban Hướng Dẫn Phật Tử Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  25. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Quản Lý Nhà Nước Về Tôn Giáo Ở Việt Nam Từ Năm 1975 Đến Nay
  26. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Phật Giáo Hoà Hảo – Lịch Sử Và Những Vấn Đề Hiện Nay
  27. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tôn Giáo Và Luật Pháp Về Tôn Giáo Trong Thời Kỳ Đổi Mới Ở Việt Nam
  28. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tư Tưởng Giải Thoát Của Phật Giáo Trong Kinh Pháp Hoa Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát
  29. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Tư Tưởng Nhân Học Xã Hội Trong Kinh Thánh
  30. Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo Học: Đạo Đức Phật Giáo Trong Đời Sống Đạo Đức Xã Hội Việt Nam Hiện Nay

1: PHẬT GIÁO TỈNH BẾN TRE THẾ KỶ XVIII – XIX

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Phật giáo từ khi được du nhập vào Việt Nam đến nay đã luôn đồng hành cùng mọi thăng trầm của dân tộc. Là một thực thể sống động, Phật giáo Việt Nam cũng có khi thịnh, lúc suy, tuy nhiên mạch ngầm trí tuệ, từ bi, dũng mãnh vẫn là suối nguồn âm ỉ chảy trong mạng mạch văn hóa dân tộc, trở thành thành tố không thể thiếu trong việc định hình bản sắc và sức sống của dân tộc Việt.

Tại vùng đất Bến Tre cũng vậy, từ khi có mặt đến nay, Phật giáo đã ghi dấu ấn vào công cuộc kiến thiết và góp phần tạo dựng nên giá trị và sức mạnh của Phật giáo Bến Tre. Đặc biệt, nhờ những thể nền mà Phật giáo Bến Tre xác lập từ thế kỷ XVIII – XIX, tại đây đã trở thành mảnh đất hun đúc, khơi nguồn nên một thời đại hồi sinh Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX mà Tổ Lê Khánh Hoà người đi đầu trong Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, góp phần làm rạng danh Phật giáo nước nhà, đồng hành cùng sự phát triển của Phật giáo thế giới.

Từ Bến Tre, ngọn lửa chấn hưng do Tổ Lê Khánh Hòa khởi thắp, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam được mở rộng ra khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam kỳ. Đây cũng là thời kỳ dân tộc sống trong lầm than, nô lệ nhưng nhờ những mạch nguồn văn hóa tôn giáo mà Phật giáo là một tiêu biểu đã đồng hành cùng dân tộc đi qua năm tháng cam go đến bến bờ độc lập, tự do. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Vì vậy, “Ôn cố, tri tân” là việc làm cần thiết không chỉ minh định những thành tựu, những đóng góp to lớn của Phật giáo Bến Tre trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo tồn, phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc mà còn tìm ra những nguyên nhân để phát huy tính tích cực và khắc phục những hạn chế của Phật giáo Bến Tre trong hiện tại và tương lai, nhằm góp phần giúp Phật giáo tỉnh Bến Tre tiếp tục phát triển trong công cuộc phụng đạo, giúp đời.

Trong thời gian qua, tuy có những công trình nghiên cứu về Phật giáo tỉnh Bến Tre nhưng những công trình này chỉ tập trung vào từng nét riêng biệt mà chưa thống kê, bao quát các phương diện của Phật giáo tỉnh Bến Tre. Vì vậy, công trình này hướng đến việc hoàn thành nghiên cứu chuyên biệt về Phật giáo tỉnh Bến Tre từ thời kỳ đầu du nhập đến hết thế kỷ XIX. Qua đó, cũng nhằm góp phần giáo dục tinh thần phụng đạo, yêu nước cho thế hệ trẻ hiện nay và mai sau.

Từ những lý do trên, người viết luận văn chọn đề tài “Phật giáo tỉnh Bến Tre thế kỷ XVIII – XIX” làm luận văn Thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Nghiên cứu Phật giáo là một đề tài luôn được giới Trí thức, các nhà Học giả quan tâm, là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống thường nhật. Vì thế Phật giáo từ khi có mặt tại vùng đất Bến Tre đến nay tuy không nhiều nhưng cũng đã có những nhà trí thức, học giả tìm hiểu, ghi chép. Năm 1965, Huỳnh Minh biên soạn “Kiến Hòa xưa và nay” có đề cập đến Phật giáo. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến một vài ngôi chùa và vài vị Tăng tại tỉnh Bến Tre phần lớn là trong thế kỷ XX, như: 100 tượng Phật chùa Trà Nồng; 5 tượng Phật cổ với chùa Linh Phước; Hòa thượng Chơn Tịnh với chùa Hội Tôn; Thượng tọa Giác Nhiên, sư Từ Huệ, 02 Tịnh Xá Ngọc Trước với phái Du tăng Khất sĩ; Hòa thượng Hoằng Khai với chùa Hội Phước; chùa Vạn Quốc ngôi Tổ đình Ni giới tại Bến Tre. Tuy nhiên, một số mục đã nêu ra cũng chỉ là một số mẫu chuyện truyền thuyết, không thể hiện đầy đủ những thông tin cần thiết về nghiên cứu một tôn giáo tại địa phương và đã phạm một số lỗi về tính chính xác của thông tin v.v…

Năm 2001, Thạch Phương, Đoàn Tứ và nhiều học giả khác, biên soạn “Địa chí Bến Tre”, đã dành một chương đề cập đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Bến Tre trong đó có đề cập đến Phật giáo. Tác giả của Địa chí viết về đạo Phật tại tỉnh Bến Tre vỏn vẹn chỉ có 4 trang (933-937), nội dung đề cập sơ lược về ngôi chùa đầu tiên của Bến Tre là chùa Hội Tôn, kế đến là 4 ngôi chùa khác, trong đó nói nhiều về Hòa thượng Lê Khánh Hòa với chùa Tuyên Linh. Sau cùng là Phật giáo tham gia hoạt động cách mạng. Tuy nội dung chỉ có 4 trang nhưng đã chứa một số thông tin chưa chính xác về Phật giáo. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Năm 2001, Hoà thượng Thích Hoằng Đạt và ông Trần Thanh Bảo biên soạn “Lịch sử những ngôi chùa Phật huyện Châu Thành – tỉnh Bến Tre”, nhằm từng bước thực hiện công trình nghiên cứu Phật giáo tỉnh Bến Tre. Nội dung tập sách ghi chép về quá trình hình thành, phát triển các ngôi chùa, hoạt động Phật sự của Tăng, Ni, Phật tử, tiểu sử và sự truyền thừa của các vị Tăng, Ni Phật giáo trong huyện Châu Thành. Có thể nói tác phẩm này đã nói rõ nhất, đủ nhất về 1/9 Phật giáo tại tỉnh Bến Tre, vì thế tập sách chưa nói lên được hết diện mạo của Phật giáo tỉnh Bến Tre. Năm 2010 Hoà thượng Thích Hoằng Đạt viên tịch, công trình nghiên cứu trên tạm dừng đến nay chưa có người tiếp tục nghiên cứu.

Năm 2011, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bến Tre biên soạn “Truyền đăng tục diệm”, tập sách chỉ đề cập đến 07 Giới đàn truyền giới cho những người xuất gia chính thức trở thành tu sĩ Phật giáo tỉnh Bến Tre thời gian 1981-2011, tiểu sử 04 vị danh tăng đất Bến Tre (Tổ Lê Khánh Hòa, Hòa thượng Thích Hồng Liên, Hòa thượng Thích Giác Thanh, Hòa thượng Thích Thiện Tín) và một số bài viết về ý nghĩa, tầm quan trọng của giới luật Phật giáo trong đời sống tu sĩ.

Năm 2017, Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức 02 lần Hội thảo Khoa học về “Hòa thượng Khánh Hòa với Phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam”, đã thu nhận 72 bài tham luận từ các vị Giáo phẩm Tăng, Ni Phật giáo, các vị Phó Giáo sư, Tiến sĩ, những nhà học giả, những nhà Nghiên cứu khắp nơi trên đất nước gửi đến. Tuy nhiên những tham luận trên chỉ tập trung nghiên cứu sâu về Phật giáo Việt Nam nói chung Phật giáo Bến Tre nói riêng trong Phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, vì thế những bài nghiên cứu này chỉ nói đến một phần nhỏ của Phật giáo tỉnh Bến Tre trong thế kỷ XX.

Ngoài những tác phẩm đã nêu, còn nhiều tác phẩm khác của những học giả, nhà nghiên cứu, nhà du lịch, nhà văn v.v… có đề cập đến một vài chi tiết có liên quan đến Phật giáo tại địa bàn tỉnh Bến Tre, như: Việt Nam danh lam cổ tự, Danh lam nước Việt tác giả Võ Văn Tường; Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam tác giả Nguyễn Duy Oanh; Chuyên Khảo về tỉnh Bến Tre người dịch Nguyễn Nghị – Nguyễn Thanh Long; Sổ tay hành hương đất phương Nam chủ biên Huỳnh Ngọc Trảng; Lược sử Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam tác giả Thích Huệ Thông; Vĩnh Long Phật giáo sử lược tác giả Trí Không, v.v… rất nhiều những tác phẩm đó có đề cập đến một vài chi tiết quan trọng có liên quan đến Phật giáo vùng đất Bến Tre đã góp phần tạo nên diện mạo của Phật giáo miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, chỉ đề cập mà không nói rõ và phần nhiều là trong thế kỷ XX. Do vậy, việc nghiên cứu Phật giáo tỉnh Bến Tre thành một hệ thống khoa học, đầy đủ các phương diện là điều cần thiết.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích: Luận văn nghiên cứu Phật giáo Bến Tre từ đầu thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX trên các phương diện cơ bản: nguồn gốc và hoạt động của các ngôi chùa, lịch sử truyền thừa tông phái và các hoạt động Phật sự. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Khái quát chung về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Bến Tre thế kỷ XVIII – XIX và Phật giáo tỉnh Bến Tre thế kỷ XVIII;
  • Làm rõ tình hình Phật giáo Bến Tre trong thế kỷ XIX trên các phương diện cơ bản: lịch sử hình thành và hoạt động của các ngôi chùa; nguồn gốc truyền thừa và tín ngưỡng, cách thức tu học của Tăng, Ni, Phật tử;
  • Một số nhận xét về đặc thù, thành tựu, hạn chế của Phật giáo tỉnh Bến Tre thế kỷ XVIII – XIX và cách khắc phục hạn chế của Tăng, Ni Phật giáo tỉnh Bến Tre cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở tự viện, Tăng, Ni, Phật tử và những hoạt động của tín đồ Phật giáo trong tỉnh Bến Tre.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát các cơ sở tự viện, Tăng, Ni, Phật tử, những tư liệu ghi chép và hiện vật lịch sử của Phật giáo tại tỉnh Bến Tre trong 200 năm (1700-1900). Thực tế, nghiên cứu tập trung vào 100 năm của thế kỷ XIX (1800-1900), gồm những hoạt động Phật giáo trong 47 ngôi chùa, còn lại là 100 năm trong thế kỷ XVIII, khi đó Phật giáo từ nơi khác mới truyền vào vùng đất Bến Tre nên những hoạt động ít ỏi chỉ diễn ra trong một vài ngôi chùa.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

 5.1 Cơ sở lý luận

Vận dụng lý thuyết cơ cấu chức năng tôn giáo để làm rõ những chức năng xã hội của Phật giáo trong niềm tin, thực hành và cộng đồng.

Cụ thể là, với cách tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng tôn giáo sẽ thấy rõ tôn giáo là một tiểu hệ thống trong hệ thống xã hội, bao gồm các thành phần bên ngoài của tôn giáo như loại hình tôn giáo, hệ thống tôn giáo, các tôn giáo và các thành phần bên trong của mỗi tôn giáo như niềm tin, giáo lý, thực hành và cộng đồng tôn giáo. Tất cả các yếu tố này có liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường xung quanh. Đối với luận văn, vận dụng cách tiếp cận này sẽ cho thấy toàn bộ lịch sử Phật giáo Bến Tre, từ sự hình thành, biến đổi và tương tác với bối cảnh chung của lịch sử Bến Tre và khu vực đến các chi tiết về ngôi chùa, cách thức thực hành, hoạt động thờ cúng, sự truyền thừa, đời sống của tăng ni, Phật tử cũng như vai trò của Phật giáo Bến Tre trong lịch sử. Tất cả gắn kết chặt chẽ với nhau, chi phối nhau và tác động đến các thiết chế xã hội, ảnh hưởng đến sự vận động và biến đổi của xã hội nói chung, tỉnh Bến Tre nói riêng. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu sử học, khảo sát tài liệu lịch sử đã ấn hành và hiện vật lịch sử như tượng Phật, văn bia, pháp khí, đồ thờ cúng, ký chú trên hiện vật trang trí… tại 76 ngôi chùa thành lập thế kỷ XVIII, XIX trong địa bàn tỉnh Bến Tre, để thu thập những thông tin chính xác nhất về Phật giáo tỉnh Bến Tre trong thế kỷ XVIII – XIX.
  • Nghiên cứu “điền dã dân tộc học”, khảo sát tận nơi 76 ngôi chùa trong tỉnh và tìm hiểu những thông tin trên sách, trang thông tin điện tử 10 ngôi chùa ngoài tỉnh Bến Tre, để thu thập chứng cứ, thông tin từ thực tế địa phương.
  • Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, khảo sát số liệu, dữ liệu, dữ kiện thông qua các tư liệu có sẵn như sách, báo, văn bia, ký chú trên hoành, phi, liễn đối. Từ đó tìm ra các yếu tố cần được giải quyết thông qua nghiên cứu của mình.
  • Sử dụng phương pháp “quan sát tham gia”, điều tra xã hội học qua bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu các vị trụ trì, phật tử lớn tuổi tại 76 ngôi chùa thế kỷ
  • Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa Phật giáo trong tỉnh và Phật giáo tỉnh bạn; giữa Phật giáo và các tôn giáo bạn vào thời điểm bấy giờ. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo
  • Áp dụng các lý thuyết văn hoá học và nhân học văn hoá để nhận diện các giá trị Phật giáo, sự tương tác giữa Phật giáo với các điều kiện môi trường (tự nhiên, chính trị – xã hội), phân tích chức năng xã hội của Phật giáo, phân tích sự biến đổi của Phật giáo tại tỉnh Bến Tre trong thế kỷ XVIII, XIX.

Đặc biệt người viết luận văn là người đã từng sinh sống trong môi trường tôn giáo tại địa phương, nên việc tham gia, trãi nghiệm, tìm hiểu là việc hàng ngày, vì vậy người viết luận văn chỉ còn đến tận nơi khảo sát thu thập chứng cứ và vận dụng những phương pháp đã nêu làm rõ đối tượng nghiên cứu trong không gian, thời gian nhất định là sáng tỏ sự việc.

6. Ý nghĩa lý luận và khoa học của Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là nguồn tài liệu khoa học giúp cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bến Tre hoàn thành công trình nghiên cứu Lịch sử Phật giáo tỉnh Bến Tre. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu tiếp theo trong công việc học tập và nghiên cứu vùng đất Bến Tre nói chung, Phật giáo tỉnh Bến Tre nói riêng.

6.2. Ý nghĩa khoa học: Qua nghiên cứu đề tài có thể giúp cho Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bến Tre phát huy tốt những đặc thù và ưu điểm vốn có của Phật giáo tại địa phương, nhằm thực hiện phương châm “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, an vui, hạnh phúc trong thời đại mới.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm: 3 chương, 9 tiết.

Chương 1. KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA XÃ HỘI BẾN TRE THẾ KỶ XVIII – XIX VÀ PHẬT GIÁO TỈNH BẾN TRE THẾ KỶ XVIII

  • 1.1. Khái quát địa lý, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Bến Tre thế kỷ XVIII – XIX
  • 1.2. Toát yếu về Phật giáo, Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu và Phật giáo tỉnh Bến Tre thế kỷ XVIII

Chương 2. PHẬT GIÁO TỈNH BẾN TRE THẾ KỶ XIX

  • 2.1. Nguồn gốc hình thành ngôi chùa và hình thức thờ cúng của các ngôi chùa trong thế kỷ XIX tại Bến Tre
  • 2.2. Nguồn gốc truyền thừa và hoạt động tín ngưỡng của Tăng, Ni, Phật tử tỉnh Bến Tre thế kỷ XIX
  • 2.3. Cách thức tu học của Tăng, Ni, Phật tử  Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Chương 3. ĐẶC THÙ, THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ VIỆC KHẮC PHỤC HẠN CHẾ, PHÁT HUY NHỮNG TÍCH CỰC CỦA PHẬT GIÁO TỈNH BẾN TRE TRONG THẾ KỶ XVIII, XIX

  • 3.1. Một số đặc thù
  • 3.2. Một số thành tựu nổi bật
  • 3.3. Những mặt hạn chế
  • 3.4. Khắc phục hạn chế và phát huy những tích cực của một số Tăng sĩ trẻ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

KẾT LUẬN

2. PHẬT GIÁO Ở QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 1930-1975

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Phật giáo truyền vào Việt Nam hơn hai ngàn năm, trong ngần ấy thời gian Phật giáo đã hòa mình vào dòng chảy văn hóa, xã hội; cùng với đất nước vượt qua bao thăng trầm, thịnh suy của mỗi giai đoạn lịch sử. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, chính vì vậy mà học giả Minh Chi đã nhận xét: “…Một đặc sắc của Phật giáo Việt Nam là nó hòa mình vào dân tộc, như cá với nước, cây với đất[7, tr.42].” Cũng trong quá trình tồn tại và phát triển, dù cho thịnh hay suy thì Phật giáo nước ta nói chung luôn có con đường phát triển và phát huy thành tựu đáng nể của nó trong lòng dân tộc, gắn kết trong lòng dân chúng. Và đối với Phật giáo Quảng Nam, lại càng không thể không ra ngoài truyền thống tốt đẹp này trong thành tựu chung của cả dân tộc ta. Cùng với sự khai phá tạo dựng nên vùng đất Quảng Nam vừa cả khô cằn đất cát, vừa có cả sự trù phú của mảnh đất duyên hải miền Trung ven biển, Phật giáo đã gắn kết và phát triển nơi đây, tạo nên những dấu ấn riêng, những giá trị văn hóa bản sắc vùng miền trong bức tranh tổng thể hài hòa đủ màu sắc của xứ Quảng.

Theo bước chân Nam tiến của dân tộc Đại Việt, tiểu quốc Amaravati từng bước được sáp nhập vào Đại Việt, văn hóa Việt dần được lan truyền vào nơi miền đất mới. Chúng ta không thể quên một quá khứ Phật giáo huy hoàng tại Phật Viện Đồng Dương được xây dựng từ thế kỷ thứ IX, đánh dấu vai trò quan trọng của Phật giáo đối với nơi này. Để rồi sau này khi sáp nhập vào Đại Việt, những danh Tăng người Việt đã đến đây hoằng pháp như Minh Châu Hương Hải (1628-1715).v.v. Cũng trong thời kỳ này, do ảnh hưởng chính trị từ Trung Quốc nên đã có nhiều vị thiền sư sang Việt Nam hoằng pháp. Tại xứ Quảng Nam – Đà Nẵng, nơi đây đã là nơi dừng chân hành đạo của các vị thiền sư từ các thiền phái như Lâm Tế: Minh Hải Pháp Bảo; Tào Động: Hưng Liên.v.v. Kể từ đây, Phật giáo Quảng Nam phát triển mạnh và minh chứng hùng hồn nhất đó là sự kiện thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670-1746) ở thế kỷ XVIII đã biệt xuất kệ, hình thành nên dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại xứ Hội An, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Sau khi ra đời và truyền thừa, thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh dường như chiếm lĩnh vị trí độc tôn trong nội bộ Phật giáo đất Quảng và sau đó, thế kỷ XIX đã lan rộng sang các địa phương khác: Nam Trung Bộ, Nam Bộ… Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Cùng với các tín ngưỡng dân gian thì sự xuất hiện của các Tăng sĩ cũng như các ngôi chùa tại các miền quê thanh bình nơi đây, không chỉ là nơi phụng thờ Phật, Bồ tát, tu học của Phật tử, mà còn là không gian thiêng liêng, gắn kết đời sống tâm linh của hầu hết mọi tầng lớp người dân xứ Quảng, nơi gửi gắm ước mơ, hy vọng, tâm nguyện, khát vọng của mọi người… về cuộc sống yên bình, tươi đẹp.

Cũng lý do đó, tại các làng xã, ngoài những ngôi đình, miếu, nhà thờ tiền hiền, nhà thờ tộc.v.v… thì các ngôi chùa lần lượt mọc lên và chiếm giữ vai trò, vị trí quan trọng không thể thay thế trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân bản xứ. Với họ, ngôi chùa không chỉ thuần túy là một cơ sở thờ tự của Phật giáo, là nơi để tín hữu tu trì thực hành giáo lí nhà Phật, mà còn dựa vào sự hoằng hóa giáo pháp đạo Phật, con người nông dân chân chất biết sống hướng thiện, biết làm điều lành, biết hướng đến lối sống cao thượng, quý trọng sự thanh bần… thậm chí là nơi vun đắp cho họ sức mạnh tinh thần để vượt qua những đau buồn mất mát hay gian nan vất vả cơ cực hằng ngày. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Từ khi đổi mới (1986) với sự ra đời của Nghị quyết 24 (1990), Nghị quyết 25 (2003) của Bộ Chính Trị về công tác tôn giáo. Đảng, Nhà nước ta đã có cách nhìn mới về tôn giáo khi cho rằng: “Tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.[74] Phật giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo đã và đang đồng hành hỗ trợ với những hoạt động của đất nước nhằm xây dựng một đất nước giàu mạnh thì việc tìm hiểu nghiên cứu các giá trị của Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo tại các địa phương nói riêng là một điều hết sức cần thiết. Vì từ đó giúp cho con người hiểu nhau hơn, gắn kết nhiều hơn và hơn hết là có những ứng xử hợp lý trong mối quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo.

Phật giáo Quảng Nam có truyền thống lịch sử khá lâu với dấu ấn hoạt động của các thiền sư dòng Lâm Tế, Tào Động.v.v. vẫn còn được tiếp nối cho đến ngày nay. Các hoạt động Phật sự, hoằng pháp ấy dù là thuần túy Phật giáo hay không thì tất cả đều không ra ngoài tinh thần “hộ quốc an dân” mà chư vị tiền bối đã dày công gầy dựng. Tuy nhiên, nhưng hiện nay những công trình nghiên cứu về Phật giáo Quảng Nam vẫn còn rất hạn chế, nhất là giai đoạn 1930-1975, giai đoạn gắn với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước cũng như của Phật giáo nước nhà. Chính vì vậy, người viết xin được chọn đề tài: “Phật giáo ở Quảng Nam giai đoạn 1930-1975” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Tôn giáo học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Viết về Phật giáo Quảng Nam, tính đến nay chỉ có một số tài liệu chỉ dừng lại ở mức độ bộ phận chứ chưa có một nghiên cứu nào mang tính tổng quát, chuyên sâu, có hệ thống. Sớm nhất, có thể kể đến là tác phẩm “Hải ngoại kỷ sự” của thiền sư Thạch Liêm – Thích Đại Sán. Trong tác phẩm này, tác giả cung cấp những sử liệu quý giá về thông tin Phật giáo vùng Thuận – Quảng vào cuối thế kỉ XVII; đặc biệt trong đó có ghi lại hoạt động của thiền phái Tào Động do Ngài và đệ tử là Quốc sư Hưng Liên trực tiếp hoằng pháp lúc bấy giờ tại vùng đất này. Tiếp theo là “Ngũ Hành Sơn lục” của tú tài Hồ Thăng Doanh và thiền sư Ấn Lan tổ Huệ Từ Trí cùng một số người khác vào năm Khải Định thứ nhất (1916) chấp bút. Trong giới hạn nào đó, đây là tác phẩm tương đối có giá trị đề cập đến thông tin về Phật giáo Quảng Nam sớm nhất của thế kỷ XX. Một thời gian sau, hòa thượng Thích Chơn Phát trong “Sử liệu danh tăng – Tự viện – Thắng cảnh Phật giáo Quảng Nam” xuất bản năm 1970 đã giới thiệu về các thiền sư, các ngôi chùa, kiến trúc Phật giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Cũng trong giai đoạn này, thượng tọa Thích Hương Sơn, viết cuốn “Lịch sử Ngũ Hành Sơn – chùa Non Nước” lưu hành nội bộ năm 1972 cũng chỉ sơ lược thông tin về danh thắng Ngũ Hành Sơn và những bài thơ cảm tác chứ chưa bàn nhiều về vấn đề chuyên sâu mang tính đột phá lịch sử phát triển Phật giáo Quảng Nam hay góc nhìn nhận khác về đề tài liên quan đến Phật giáo Quảng Nam…

Trên phương diện nghiên cứu có tính chuyên sâu hơn về sử Phật giáo phải kể đến “Việt Nam Phật giáo sử luận [34] (tập II) (1978) của Nguyễn Lang, “Lịch sử Phật giáo Việt Nam [31] (1988) của Viện Triết học. Nhưng cả hai tác phẩm này trình bày một cách vắn tắt về Phật giáo Quảng Nam. Tiếp theo, năm 1993, Nguyễn Hiền Đức trong tác phẩm “Lịch sử Phật giáo Đàng Trong” [22], với dung lượng 13 chương, hơn 800 trang, tác giả đã dành trọn chương VII để trình bày về tổ Minh Hải Pháp Bảo cùng sự truyền thừa của các thế hệ dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam và một phần ở các địa phương lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên .v.v..

Bên cạnh các tác phẩm của các tác giả đã liệt kê trên, sau cùng có một một nghiên cứu mang tính khoa học, liên quan ít nhiều đến đề tài Phật giáo Quảng Nam. Chẳng hạn năm 1995, Trương Văn Bá trong luận văn tốt nghiệp Đại học của mình trình bày đề tài “Bước đầu tìm hiểu tình hình Phật giáo trên đất Quảng Nam thế kỷ XVII – XVIII” đã phần nào nêu lên được quá trình du nhập cùng đặc điểm của Phật giáo Quảng Nam qua hai thế kỷ XVII-XVIII. Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn lúc bấy giờ vẫn còn mang tính phổ quát dạng nghiên cứu khái quát hoặc mang tính bổ sung có các bài viết như “Bổ chính sử liệu về thiền sư Minh Hải Pháp Bảo [51, tr.75-82], “Sử liệu mới về thiền sư Toàn Nhâm Quán Thông năm [52, tr.54-61] và bài “Thái Bình tự thạch bi và Phật giáo vùng Thuận Quảng [17, tr.39-43] của Phạm Văn Tuấn trên nội san Liễu Quán. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Ngô Quốc Trưởng – Thích Đồng Dưỡng có các nghiên cứu ngắn về các văn bia tại một số ngôi chùa như: “Văn bia chùa Phú Thuận [65, tr.10-11], “Tấm bia chùa Minh Giác [66, tr.89-92]”, “Tìm hiểu văn bia Thái Bình tự thạch bi [17, tr.16-18]”. v.v… được đăng trên các tạp chí Pháp luân, Văn hóa Phật giáo, Suối nguồn và Liễu Quán.

Bài viết “Một vài đặc điểm của Phật giáo miền Trung” của Trương Minh Dục trên “Nghiên cứu tôn giáo”, năm 2000 [10, tr.36-39], đã chỉ ra các đặc điểm của Phật giáo miền Trung như: đa dạng về tông phái và đa dạng về tổ chức. Tuy nói Phật giáo miền Trung nhưng tác giả đã trưng dẫn dữ liệu chủ yếu là Phật giáo Quảng Nam. Nguyễn Văn Hoàn trong “Vai trò của Phật giáo đối với xã hội Quảng Nam thế kỉ XVII [30, tr.88-89] đã nêu ra được một số vai trò của Phật giáo tại đây như: ổn định nhân tâm, tập hợp dân chúng, xây dựng một trật tự xã hội mới; kiến tạo các giá trị vật thể; truyền bá giá trị Phật giáo khoan dung; và tạo nên diện mạo Phật giáo mới xứ Đàng Trong. Tuy còn một vài vấn đề chưa thật sự thỏa đáng, nhưng vẫn có những đóng góp nhất định.

Bên cạnh việc nghiên cứu tình hình chung của Phật giáo Quảng Nam thì còn có một số nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn về các cá nhân xuất sắc của Phật giáo xứ Quảng. Ở phương diện này, đầu tiên phải kể đến “Toàn tập Minh Châu Hương Hải [54] của Lê Mạnh Thát xuất bản năm 2000. Đây là tác phẩm nghiên cứu về các bậc danh tăng của Phật giáo Đại Việt giai đoạn nửa sau thế kỉ XVII – nửa đầu thế kỉ XVIII. Kế đến, Thích Như Tịnh trong “Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh [50] xuất bản 2009; đây là tác phẩm nghiên cứu chi tiết và có hệ thống quá trình ra đời, phát triển của thiền phái thiền Lâm Tế Chúc Thánh ở Quảng, Nam Trung Bộ, Nam Bộ và cả ngoại quốc. Trước đó, năm 2008, Thích Như Tịnh xuất bản “Hành trạng chư thiền đức xứ Quảng [53]”. Đây là công trình ghi nhận sự nỗ lực rất lớn của tác giả trong việc tìm kiếm nguồn tư liệu để từ đó dựng nên chân dung đa diện và sinh động về chư Tăng ni đất Quảng, từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XX. Điểm đặc biệt của tác phẩm này là các nhân vật được nghiên cứu không chỉ giới hạn trong tông môn Lâm Tế Chúc Thánh như thường thấy ở những tác phẩm trước.

Năm 2018, Lê Xuân Thông, trong luận án Tiến sĩ sử học của mình với tựa đề “Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XIX” [64], đã phác họa tương đối sâu sắc về Phật giáo Quảng Nam, nhưng lại không nhắc đến tình hình Phật giáo tại các địa phương phía Nam tỉnh Quảng Nam. Do đó dễ khiến cho người đọc hiểu nhầm Phật giáo Quảng Nam chỉ có một dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh.. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Bên cạnh những công trình mang tính chuyên môn cao vừa nêu ở trên còn có các bài viết được đăng trên các tạp chí nghiên cứu như Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tạp chí Suối Nguồn, Tạp chí xưa & nay, tập san nghiên cứu Phật học Liễu Quán .v.v… các bài viết này tuy có tính học thuật cao nhưng như đã trình bày, chủ yếu đề cập đến Phật giáo Quảng Nam các giai đoạn trước mà hầu như chưa có công trình nào đề cập đến Phật giáo Quảng Nam giai đoạn 1930-1975.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 3.1 Mục đích:

Trên cơ sở xây dựng bức tranh tổng quan về Quảng Nam và Phật giáo ở Quảng Nam, luận văn tập trung tìm hiểu các hoạt động của Phật giáo ở Quảng Nam từ năm 1930 đến năm 1975, đồng thời chỉ ra vai trò, ý nghĩa của Phật giáo Quảng Nam.

3.2. Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, những nhiệm vụ cơ bản người viết cần phải thực hiện là:

  • Tìm hiểu khái quát chung về tỉnh Quảng Nam; về quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của Phật giáo ở Quảng Nam.
  • Phân tích thực trạng hoạt động của Phật giáo ở Quảng Nam (về các hoạt động Phật sự và hoạt động thế sự) từ năm 1930 đến năm 1975.
  • Rút ra vai trò, ý nghĩa của Phật giáo ở Quảng Nam từ năm 1930 đến năm 1975 và ý nghĩa đối với Phật giáo Việt Nam và xã hội Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động của Phật giáo ở Quảng Nam giai đoạn 1930-1975

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay.

Phạm vi về thời gian: Từ năm 1930 đến năm 1975. Sở dĩ người viết chọn mốc thời gian 1930, vì trong những năm này, phong trào chấn hưng Phật giáo bắt đầu phát triển mạnh và diễn ra trên khắp cả nước, Phật giáo có sự khởi sắc, chư Tăng Ni khắp nơi thành lập đạo tràng giảng kinh, diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt ngữ, mở trường đào tạo Tăng tài tạo sự khởi sắc cho Phật giáo sau nhiều năm bị suy thoái. Năm 1975 là mốc thời gian đất nước hoàn toàn giải phóng, Phật giáo vì thế bước vào một giai đoạn phát triển mới. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Phật giáo ở Quảng Nam giai đoạn 1930 – 1975 trên hai phương diện: Hoạt động Phật sự (hoạt động thuần túy Phật giáo) và hoạt động thế sự (hoạt động nhập thế).

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

 5.1 Cơ sở lý luận:

Đề tài này sử dụng 3 cách tiếp cận chính: Sử học tôn giáo, tôn giáo học và xã hội học.

Cách tiếp cận sử học tôn giáo: Người viết khai thác các tài liệu gốc, tài liệu hiện tồn tại ở các cơ sở thờ tự Phật giáo để thấy được quá trình phát triển của Phật giáo ở Quảng Nam.

Với cách tiếp cận, này người viết xem xét phân tích các sự kiện Phật giáo trong các không gian và bối cảnh lịch sử nhất định. Từ các dữ liệu lịch sử và kết quả phân tích người viết sẽ đưa ra những nhận định từ góc nhìn khoa học về Phật giáo ở Quảng Nam.

Cách tiếp cận tôn giáo học: Nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức tôn giáo, các hoạt động tôn giáo. Với cách tiếp cận này, đề tài triển khai nghiên cứu thực trạng hoạt động của Phật giáo ở Quảng Nam trên ba cốt lõi: niềm tin – thực hành – cộng đồng. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Cách tiếp cận xã hội học: Với lý thuyết cấu trúc chức năng được đề tài áp dụng để phân tích vai trò của Phật giáo với xã hội đương thời.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu chuyên về vấn đề lịch sử, người viết đặc biệt chú trọng các phương pháp tiếp cận sử học và tiếp cận theo hướng đa ngành, tùy từng trường hợp cụ thể mà sử dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau để cho ra kết quả nghiên cứu khách quan và trung thực.

Phương pháp thu thập thông tin: Tham khảo, tra cứu, phân tích các tư liệu thư tịch, những ấn phẩm lịch sử đã xuất bản và các hiện vật như tượng Phật, văn bia, câu đối, liễn thờ, linh vị, các bản sắc phong, các bài minh, bài ký trên các đại hồng chung… trên địa bàn nghiên cứu để thu thập những thông tin chính xác nhất về Phật giáo ở Quảng Nam trong giai đoạn 1930-1975.

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Tìm kiếm tài liệu, phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan đến Phật giáo ở Quảng Nam giai đoạn 1930 – 1975.

Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Thực hiện đi phỏng vấn các vị lãnh đạo Phật giáo, các vị Cao Tăng lớn tuổi, những Phật tử cao niên để có thêm thông tin. Sau đó, đối chiếu so sánh lại với những tư liệu đã tổng hợp được để làm căn cứ cho luận văn.

Phương pháp điền dã: Thực hiện đi đến một số ngôi chùa tiêu biểu trên địa bàn để tìm hiểu về lịch sử (năm thành lập, ai thành lập….), khảo cứu (văn bia, câu đối, liễn, bài vị, linh vị…) để tạo tài liệu sơ cấp cho luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Về mặt lý luận: Đề tài góp phần tái hiện lại bức tranh tổng quát về Phật giáo ở Quảng Nam trong giai đoạn 1930 – 1975, cung cấp và bổ sung tư liệu có căn cứ khoa học về lịch sử Phật giáo ở Quảng Nam nói riêng và lịch sử PGVN nói chung.

Đề tài bổ sung tư liệu để phát triển ngành Tôn giáo học, các ngành khoa học liên quan và giúp người đọc hiểu sâu hơn về quá trình hoạt động, phát triển của Phật giáo ở Quảng Nam trong giai đoạn 1930 – 1975. Đồng thời giúp mọi người hiểu thêm về vai trò của Phật giáo đối với xã hội trong giai đoạn lịch sử này cũng như ngày nay.

Về mặt thực tiễn: Thông qua ý nghĩa về mặt lý luận, đề tài cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan, đoàn thể, giáo hội, chính quyền địa phương đề ra những chương trình, chính sách, cách thức quản lý, định hướng bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp mà Phật giáo đã mang lại cho xã hội và định hướng hoạt động phát triển cho Phật giáo trong tương lai.

7. Kết cấu của Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Đề tài bao gồm những nội dung chính sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 3 chương, 6 tiết.

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢNG NAM VÀ PHẬT GIÁO Ở QUẢNG NAM

  • 1.1. Khái quát chung về Quảng Nam
  • 1.2 Sơ lược tình hình chính trị xã hội, văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX

CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO Ở QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1975

  • 2.1. Sơ lược tình hình Phật giáo Quảng Nam từ du nhập đến những năm 50 thế kỷ XX
  • 2.2.  Tình  hình  và  hoạt  động  của  Phật  giáo  ở  Quảng  Nam  giai  đoạn 1930 – 1975

CHƯƠNG 3. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA PHẬT GIÁO Ở QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1975 ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

  • 3.1. Vai trò của Phật giáo ở Quảng Nam giai đoạn 1930 – 1975
  • 3.2. Ý nghĩa đối với Phật giáo và xã hội Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

3. HỘI NHẬP VĂN HÓA QUA MỘT SỐ VĂN BIA HÁN NÔM CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập văn hóa là một hiện tượng xuất hiện trong lịch sử phát triển và truyền bá Kitô giáo – tôn giáo phát sinh tại vùng đất Jerusalem rồi dần lan rộng ra toàn thế giới đi kèm với sự tự biến đổi và chia tách. Trong đó, Công giáo Roma là nhánh Kitô giáo lớn và đã được truyền bá vào Việt Nam khoảng trên 400 năm.

Đồng bằng Bắc Bộ được ghi nhận trong lịch sử Công giáo Việt Nam là một trong những điểm đến đầu tiên của những giáo sĩ truyền giáo vào nước ta. Trong quá trình truyền giáo, các giáo sĩ đã sử dụng chữ viết thông dụng của người bản địa là chữ Hán và chữ Nôm để ghi chép, soạn kinh sách, bi ký… đó là những di sản của miền ký ức có giá trị cho việc nghiên cứu lịch sử, lối sống… của người Công giáo Việt Nam. Tuy nhiên, số văn bia Hán Nôm Công giáo còn giữ được cho đến nay có số lượng rất ít do đã và đang đối mặt với nguy cơ bị hủy hoại bởi nhiều tác nhân. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Văn bia Hán Nôm Công giáo là một loại hình thư tịch chứa nhiều mã văn hóa về người Công giáo tại Việt Nam, và bản thân chúng cũng là đại diện cho hiện tượng hội nhập văn hóa của người Công giáo – một biểu hiện của “đồng hành cùng dân tộc”. Tuy nhiên, khái niệm “hội nhập văn hóa” nói riêng được Tòa Thánh Roma sử dụng khá muộn, chỉ từ sau Công đồng Vatican II (1962-1965). Tại châu Á, Thượng hội đồng Giám mục Á Châu cũng sớm có những tiếng nói hưởng ứng điều này.

Vậy chúng ta nên lý giải như thế nào về hiện tượng hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam từ trước khi có các sự kiện kể trên? Lý do cho sự ra đời của những văn bia Hán Nôm Công giáo là gì? Chúng có những đặc điểm gì về mặt nội dung và hình thức? Và chúng có giá trị như thế nào trong việc việc thể hiện tính nhập thế của Công giáo trong môi trường văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ? Những biểu hiện của việc hội nhập văn hóa mang tính một chiều hay hai chiều và chúng được thể hiện như thế nào?

Thông qua việc thu thập, nghiên cứu văn bia Hán Nôm Công giáo tại vùng đồng bằng Bắc Bộ có thể phần nào chỉ ra được sự linh hoạt trong phát triển của Công giáo tại nơi đây. Nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta có những hình dung cụ thể hơn về đời sống văn hóa – tâm linh của một bộ phận người Công giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng có thể góp thêm những luận cứ khoa học để người Công giáo có những đối chiếu, tiếp thu những di sản có giá trị, gạt bỏ những điều không còn phù hợp trong giai đoạn xây dựng lối sống mới hiện nay, cũng như trong quá trình đồng hành cùng dân tộc Việt Nam và hội nhập văn hóa quốc tế.

2. Tình hình nghiên cứu Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Nghiên cứu về hội nhập văn hóa:

Vấn đề hội nhập văn hóa tại Việt Nam đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa. Tuy nhiên, cuốn sách Về hội nhập văn hóa trong lịch sử Việt Nam [26] có lẽ là một trong số ít công trình nghiên cứu có tên gọi gần gũi nhất với vấn đề này, cuốn sách bàn trực tiếp về quá trình hội nhập văn hóa của Việt Nam từ khởi nguyên cho đến cuối triều Nguyễn. Theo cách trình bày của các tác giả, quá trình hội nhập văn hóa này thực chất là quá trình nhập nội văn hóa (chủ yếu là văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ), kết hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại Đại Việt để tạo ra một nền văn hóa riêng biệt, đa sắc màu. Sách chưa bàn đến vấn đề hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam.

Những nghiên cứu về văn hóa truyền thống, thường khẳng định tính linh hoạt của văn hóa Việt Nam, trong đó tinh thần dân tộc được đề cao, nhưng sự bao dung, hòa đồng về văn hóa và đạo hiếu cũng rất được coi trọng. Trong đó tục cúng hậu được xem là một biểu hiện của đạo hiếu, tinh thần uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam. Các bài viết Bia hậu ở Việt Nam của Trần Kim Anh hay Tục cúng hậu và lập bia hậu của nước ta trong lịch sử của Nguyễn Ngọc Quỳnh [57] có thể xem là những nghiên cứu có giá trị góp thêm nhiều thông tin khoa học quan trọng về vấn hiện tượng mua hậu, cúng hậu ở Việt Nam.

Nhiều công trình nổi tiếng viết về phong tục truyền thống Việt Nam như Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính [3], Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên [31]… cho ta cái nhìn tương đối toàn diện về văn hóa, phong tục Việt Nam, trong đó cũng ít nhiều đề cập đến Công giáo. Các tác giả Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu trong cuốn Phong tục làng xóm Việt Nam, có điểm qua một số sự kiện lịch sử thể hiện những băn khoăn của Công giáo đối với vấn đề hội nhập văn hóa. Sách cũng bàn về các tập tục khác của người Việt, trong đó có tục mua hậu [58, tr.262-263]. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Còn Trần Ngọc Thêm khi bàn về văn hóa Việt Nam thì cho rằng Việt Nam sáng tạo ngay trong quá trình tiếp thu, không bao giờ tiếp thu cái gì một cách trọn vẹn, mà luôn luôn biến báo, thay đổi trong quá trình tiếp thu; làm cho cái được tiếp thu thích nghi ngay với mình. Nhờ tính cách hài hòa, khả năng biến báo, lối sống linh hoạt mà trong quá trình phát triển, nền văn hóa Việt Nam luôn có những bước chuyển rất mềm mại, mang tính nước đôi chứ không cứng rắn và đứt đoạn như ở loại hình văn hóa động [68].

Nghiên cứu về hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam:

Những nghiên cứu bàn về hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam có số lượng không nhỏ, và xuất hiện nhiều trong vài thập kỷ gần đây khi vấn đề hội nhập văn hóa được chú ý nghiên cứu hơn. Ở đây, có thể điểm qua một số đầu sách, bài viết dưới đây:

Trong Tông huấn Giáo hội tại châu Á (Ecclesia in Asia) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Ban hành tại New Delhi Ấn Độ, ngày 6/11/1999 (bản dịch tiếng Việt của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề ngày 2/6/2001) đã đưa ra những diễn giải chủ yếu về hội nhập văn hóa diễn ra sau Công đồng Vatican II, và về hội nhập văn hóa của Công giáo tại Châu Á (liên quan trực tiếp đến Việt Nam) [73]. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Không ít nghiên cứu có đề cập tới vấn đề hội nhập văn hóa đã được công bố, trong đó có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả sau:

Phan Tấn Thành trong bộ sách đồ sộ Đời sống tâm linh đã nhiều lần đề cập tới vấn đề hội nhập văn hóa của Công giáo, ông cho rằng: “Đề tài „phụng vụ và hội nhập văn hóa‟ đã được nói đến trong nhiều văn kiện Tòa Thánh, đặc biệt là trong Huấn thị Varitates legitimae của Bộ Phụng tự (ngày 25/1/1994). Tuy nhiên, có lẽ ít người quan tâm đến đề tài „cầu nguyện và hội nhập văn hóa‟. Chúng tôi vừa mới nêu lên vấn đề các Kitô hữu Á châu muốn du nhập những truyền thống chiêm niệm lâu đời vào việc cầu nguyện (chẳng hạn thinh lặng hồi tâm „tọa thiền‟). Đang khi đó, tín hữu đến bên Phi châu thì muốn cầu nguyện với nhịp trống đàn, và các vũ điệu. Các đề tài này đưa đến câu chuyện „cầu nguyện bằng thân thể‟, không chỉ giang tay cúi đầu, nhưng kể cả việc nhảy múa, hành thiền, cũng như những lời reo hò hoặc rên rỉ” [61, tr.151].

Phan Tấn Thành cũng đề cập một cách sơ lược về mối quan hệ giữa đức tin và văn hóa cổ truyền, theo ông “sự đối chọi giữa Kitô giáo với môi trường xã hội không chỉ giới hạn vào nếp sống luân lý nhưng còn mở rộng đến lãnh vực tư tưởng triết học” [60, tr.81], đó là thái độ khép kín và thái độ cởi mở. Cũng phải thấy rằng “thật ra, hai thái độ tương phản với văn hóa cổ truyền không chỉ tùy thuộc vào thái độ cá nhân (khép kín hay cởi mở) nhưng còn tại vì tính cách hàm hồ của mọi nền văn hóa. Các nền triết học, các tôn giáo đều chứa đựng những giá trị tích cực cũng như những thiếu sót. Sự phân định không phải là chuyện đơn giản” [60, tr.82].

Người có nhiều nghiên cứu về hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam là giáo sư Trần Văn Toàn, một số bài viết của ông đã được tập hợp trong cuốn sách Đạo trung tùy bút [12]. Theo tác giả, hội nhập văn hóa nằm trong khuôn khổ của bất kỳ cuộc giao lưu văn hóa nào (trường hợp Công giáo truyền bá vào châu Âu cũng diễn ra như vậy), và điều đó tạo nên sự trao đổi văn hóa hai chiều. Theo Trần Văn Toàn, việc hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam được biểu hiện ở ba phương diện chính: Một là về nghi lễ, hai là về tổ chức Giáo hội, ba là ngôn ngữ dùng trong khi nói về giáo lý. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Tác giả Đỗ Quang Chính trong cuốn sách Hòa mình vào xã hội Việt Nam đã bàn khá kỹ về vấn đề giỗ chạp, cúng bái, và ý kiến của một số nhà truyền giáo về việc tôn kính tổ tiên ở Việt Nam. Còn Võ Tá Khánh trong cuốn Về với cội nguồn [45] đã dành ra nhiều trang để nhắc lại khối mâu thuẫn cơ bản giữa Tòa Thánh và những người Việt Nam quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên. Theo ông, truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo, con người cá nhân (người quân tử) phải tu thân, tề gia, trị quốc. Do đó gia đình là nền tảng của nước, việc thờ cúng tổ tiên ở các cấp độ khác nhau: từ thờ gia tiên (nhà) đến thờ thành hoàng (làng xã) và mở rộng ra đến nước (quốc tổ). Đào Trung Hiệu cũng cho biết “trong hướng hội nhập văn hóa, Hội đồng Giám mục đã xin Tòa Thánh và chính thức cho phép thi hành các nghi thức thờ kính tổ tiên ngày 14.06.1965: “Hội thánh Công giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích được diễn tả bằng các cử chỉ riêng biệt cho mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo từng trường hợp … (như treo ảnh, dựng hình, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức giỗ, kỵ) thì được thi hành và tham gia cách chủ động” [24, tr.285]. Đó là sự thể hiện thái độ của phía giới chức Công giáo Việt Nam về hội nhập văn hóa.

Tuy nhiên, trong số những công trình tiếng Việt bàn về hội nhập văn hóa của Công giáo ở Việt Nam, bài viết Hội nhập văn hóa Kitô giáo ở Việt Nam của Nguyễn Nghị [54] và cuốn sách Công giáo trong văn hoá Việt Nam của Nguyễn Hồng Dương [18] có lẽ hiện vẫn là những công trình bàn kỹ về vấn đề này với hướng tiếp cận lịch sử ở cả mặt nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Tại Việt Nam vấn đề hội nhập văn hóa ngoài việc đã được bàn đến trên tờ báo Công giáo và Dân tộc, chủ đề này còn được bàn luận trong một số hội thảo khoa học. Ở phạm vi châu Á, hội nghị vào tháng 5/1998 của các giám mục đại diện các giáo hội Công giáo giáo ở châu Á diễn ra tại Rôma, dưới sự chủ tọa của Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã lấy vấn đề hội nhập văn hóa của Công giáo làm một trong những chủ đề chính của hội nghị khi đề cập đến nhu cầu “xây dựng một Giáo hội có tính châu Á hơn nữa”, “một Giáo hội biết đối thoại chân thành với các nền văn hóa và tôn giáo trong vùng”, “một Giáo hội cắm rễ sâu trong đời sống người dân châu Á” [54, tr.258-259].

Về vấn đề thần học, chủ đề “Làm thần học với những thực tại Việt Nam” đã được bàn luận trong một “Tuần lễ hội thảo thần học” được Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 11/1992 với sự góp mặt của một số nhà thần học Á Châu Tin Lành khá nổi tiếng như mục sư Song Choan Seng (Tống Toàn Thịnh) và ông bà John Rita England [54, tr.259]. Gần đây, linh mục Thân Văn Tường với việc xuất bản cuốn sách Dẫn vào thần học Hội nhập văn hóa, có thể coi là người Việt Nam hiếm hoi xuất bản sách bàn riêng về vấn đề hội nhập văn hóa ở khía cạnh thần học [77]. Trên phạm vi rộng hơn, Phan Đình Cho cũng có những suy tư thần học về hội nhập văn hóa của Công giáo ở châu Á, và địa vị của Công giáo châu Á trong thời đại mới. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Viên [81] khi bàn về Bản chất và vai trò của hội nhập văn hóa đã có những khảo sát khá tỉ mỉ về lịch sử nhận thức và nghiên cứu về vấn đề này. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam năm 2005 nhắc lại một nội dung quan trọng của Thư chung 1980 là “Xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc” [80, tr.244] bằng giải pháp vừa phải đào sâu đức tin, vừa phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc, rồi từ đó vận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hóa và xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên quê hương và trong cộng đồng Hội Thánh. Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam năm 2005 cũng dành bốn trang sách để bàn riêng về vấn đề thờ kính tổ tiên [80, tr 487-490].

Nhìn một cách tổng quát, các nghiên cứu trên thường tiếp cận theo chiều lịch sử, hoặc thần học để bàn về vấn đề hội nhập văn hóa. Trong luận văn này, vấn đề cấu trúc, chức năng và những biểu hiện của hội nhập văn hóa hay mối tương tác khi có sự gặp gỡ và giao lưu giữa các nền văn hóa cũng sẽ đươc chú ý.

Nghiên cứu về văn bia Hán Nôm Công giáo:

Trở lại với vấn đề văn bia Hán Nôm Công giáo, chúng ta thấy trong cuốn Nhà thờ Công giáo Việt Nam, Nguyễn Hồng Dương đã nêu ra một vài đặc điểm về chất liệu, hình dáng, cách trang trí, nội dung, ngôn ngữ của hệ thống bia đá Công giáo nói chung. Ông cũng đã đưa ra được một danh mục văn bia ở nhà thờ Công giáo viết bằng chữ Hán và chữ Nôm [15, tr.113-118]. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Một vài văn bia Hán Nôm Công giáo cũng đã được sưu tầm, dịch thuật và công bố trên các thông báo khoa học như Thông báo Khảo cổ học, Thông báo Hán Nôm học… Chẳng hạn như bài Thêm một tấm bia Công giáo viết bằng chữ Hán của Vương Thị Hường [39, tr.194-198], hay bài Góp thêm một loại hình bia hậu của Nguyễn Thị Hoàng Quý [55, tr.541-544]. Gần đây trong bài nghiên cứu về văn bia tại nhà thờ Hoàng Nguyên (huyện Phú Xuyên-thành phố Hà Nội) Nguyễn Thế Nam đã giới thiệu thêm một tấm bia với những quy định chi tiết về chi phí và số lượt kéo chuông đối với từng loại lễ trong một vòng đời người tại một làng Công giáo toàn tòng [49, tr.107-125]… Các nghiên cứu này chú ý đến hiện tượng mua hậu, cúng hậu ở một số làng Công giáo, và đều coi đây là hiện tượng hội nhập văn hóa.

Nhìn chung, các nghiên cứu trên chưa đưa ra được một cái nhìn có hệ thống về văn bia Hán Nôm Công giáo, cũng như vấn đề hội nhập văn hóa thông qua hệ thống văn bia này. Trong luận văn này, chúng tôi chọn nghiên cứu về hội nhập văn hóa (kèm với nó là sự tương tác văn hóa) giữa Công giáo với văn hóa truyền thống (bao gồm cả các yếu tố tôn giáo được coi là căn tính của văn hóa Việt Nam) ở một khu vực địa lý cụ thể là đồng bằng Bắc Bộ, nơi được coi là vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu ấn của chữ Hán, chữ Nôm. Dựa vào những hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau, chúng tôi cho rằng có thể đưa ra một kết quả nghiên cứu có giá trị về về vấn đề này, thông qua nghiên cứu một dạng thức văn bản cụ thể là văn bia Hán Nôm Công giáo. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ vấn đề hội nhập văn hóa của Công giáo; Tìm ra những điểm mang tính hội nhập văn hóa của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ thông qua nghiên cứu văn bia Hán Nôm Công giáo.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Khái quát về vấn đề hội nhập văn hóa và hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam;
  • Tiếp cận nghiên cứu vấn đề hội nhập văn hóa theo chiều kích tôn giáo học, thông qua nghiên cứu trường hợp là văn bia Hán Nôm Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ;
  • Phân tích văn bia để tìm ra những đặc điểm có tính chất hội nhập văn hóa của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ trong lịch sử.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Vấn đề hội nhập văn hóa, hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam; Văn bia Hán Nôm, cụ thể là văn bia Hán Nôm Công giáo, được lưu giữ ở các cơ sở tôn giáo của Công giáo tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đồng bằng Bắc Bộ.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Thứ nhất, luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và văn hóa để làm hệ quy chiếu khi đánh giá, nhìn nhận về văn hóa, văn hóa tôn giáo và vấn đề hội nhập văn hóa của Công giáo tại một địa bàn cụ thể là đồng bằng Bắc Bộ.

Thứ hai, luận văn xác định tôn giáo là nhân tố cốt lõi thúc đẩy sự hình thành bản sắc văn hóa của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ dựa trên nền tảng thế giới thiêng – thần thoại – niềm tin – nghi lễ… Công giáo nơi đây cũng chịu chung ảnh hưởng của mô hình này. Cộng đồng Công giáo và cộng đồng người Việt tại đồng bằng Bắc Bộ là hai cộng đồng song song tồn tại, có nơi xen lẫn, có nơi tách biệt nhau, và sự ảnh hưởng qua lại giữa hai cộng đồng này là điều khó tránh khỏi. Cộng đồng Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ cùng với những văn bia Hán Nôm được cộng đồng này tạo dựng là một hiện tượng tôn giáo đã và đang tồn tại, do đó luận văn áp dụng lý thuyết Hiện tượng luận tôn giáo để lý giải vấn đề này. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp Văn bản học: Bao gồm các cách hiểu khác nhau như: Phê phán văn bản (Critique des textes), Khảo cứ học (Textology)… ở phương Tây; hay rất nhiều bộ môn nghiên cứu văn bản theo kinh nghiệm của người Trung Quốc trong đó có Văn hiến học bao quát hầu hết các bộ môn liên quan đến việc nghiên cứu văn bản học. Nhìn chung, bộ môn văn bản học dựa trên ký hiệu ngôn ngữ, chất liệu chứa đựng văn bản, chủ đề… để phân biệt thật giả, mức độ tin cậy của văn bản, hoặc sắp xếp các mục loại văn bản… Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu văn bia Hán Nôm Công giáo.
  • Phương pháp nghiên cứu so sánh: So sánh giữa Công giáo với các tôn giáo khác tại Việt Nam bằng cách so sánh giữa các bộ phận cấu thành các tôn giáo đó (cũng có nghĩa là các bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam), đặt chúng đối diện nhau, tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Phân tích đâu là những điểm giống và khác nhau căn bản. Qua nghiên cứu văn bia Hán Nôm Công giáo, tác giả tìm luận cứ để chứng minh cho giả định rằng mặc dù hấp thụ nhiều yếu tố của văn hóa truyền thống, nhưng Công giáo vẫn giữ được căn tính của mình.
  • Phương pháp tiếp cận Địa văn hóa: Một nền văn hóa ngoài những yếu tố chung được quy định bởi tính tộc người, hay tính dân tộc ở cấp độ một quốc gia-dân tộc, còn mang những đặc tính vùng miền được quy định bởi cách ứng phó của các nhóm dân cư với điều kiện tự nhiên, hoặc được quy định bởi tôn giáo, tín ngưỡng. Chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận Địa văn hóa để tìm hiểu ảnh hưởng của môi trường sống, môi trường văn hóa tới mục đích, cách thức lập văn bia Hán Nôm của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo
  • Phương pháp phỏng thấu hiểu: Phỏng vấn một cách tự nhiên và ngẫu nhiên những người có mối liên hệ gần gũi với địa điểm có văn bia Hán Nôm Công giáo, tạo niềm tin với họ trong cuộc trò chuyện để thu thêm những thông tin về lịch sử của văn bia, cũng như ảnh hưởng của văn bia đỗi với người dân trên địa bàn đó trong quá khứ và hiện tại.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận:

Nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta có những hình dung cụ thể hơn về đời sống văn hóa – tâm linh của một bộ phận người Công giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ ra sự linh hoạt trong phát triển của Công giáo tại đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cũng có thể góp thêm những luận cứ khoa học để người Công giáo có những đối chiếu, tiếp thu những di sản có giá trị trong tiến trình xây dựng lối sống mới hiện nay, cũng như trong quá trình đồng hành cùng dân tộc Việt Nam và hội nhập văn hóa quốc tế.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn:

Đưa ra một danh mục tương đối đầy đủ văn bia Hán Nôm Công giáo còn được lưu giữ tại đồng bằng Bắc Bộ, sưu tầm các bản dịch các văn bia đã được công bố, phiên dịch những văn bia quan trọng;

Tạo đường dẫn nối quá khứ với hiện tại giúp người Công giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ hiểu hơn về lịch sử của mình thông qua kết quả dịch thuật và nghiên cứu văn bia Hán Nôm Công giáo;

Làm rõ thêm những biểu hiện của tinh thần đồng hành cùng dân tộc của người Công giáo Việt Nam thông qua hiên tượng hội nhập văn hóa.

7. Cơ cấu của Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Luận văn gồm ba phần : Mở đầu, Nội dung và Kết luận.

Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ HỘI NHẬP VĂN HÓA VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA CỦA CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM

  • 1.1. Vấn đề hội nhập văn hóa ở Việt Nam
  • 1.2. Cơ sở xác định mức độ hội nhập văn hóa của Công giáo tại Việt Nam theo hướng tiếp cận tôn giáo học

Chương 2. VỀ MỘT SỐ VĂN BIA HÁN NÔM CÔNG GIÁO TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

  • 2.1. Một số nét chính về văn bia Hán Nôm
  • 2.2.  Toát yếu văn bia Hán Nôm Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ
  • 2.3. Đặc điểm văn bia Hán Nôm Công giáo ở đồng bằng Bắc Bộ
  • 2.4. Tiểu kết Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tôn Giáo

Chương 3.VĂN BIA HÁN NÔM CÔNG GIÁO: BIỂU TRƯNG HỘI NHẬP VĂN HÓA CỦA CÔNG GIÁO VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

  • 3.1. Tính hội nhập văn hóa của văn bia Hán Nôm Công giáo qua chiều kích văn bản học
  • 3.2. Biểu trưng hội nhập qua mối quan hệ giữa cá nhân với làng xã, trong đời sống đạo của cộng đồng, gia đình, dòng họ
  • 3.3. Biểu trưng hội nhập văn hóa qua thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan
  • 3.4. Nhận định, đánh giá

KẾT LUẬN


Trên đây là Đề Tài Luận Văn Thạc sĩ Ngành Tôn Giáo mà Tri Thức Panda muốn chia sẻ đến các bạn học viên cùng nhau tham khảo. Ngoài ra, Tri Thức Panda còn có thêm những dịch vụ đi kèm như là: Dịch vụ viết thuê tiểu luận full môn, làm báo cáo thực tập, viết khóa luận tốt nghiệp, hỗ trợ viết chuyên đề tốt nghiệp và làm hoàn thiện luận văn thạc sĩ. Nếu như các bạn có nhu cầu tham khảo thêm về giá cũng như quy trình thì liên hệ trực tiếp đến Tri Thức Panda nhé.

Contact Me on Zalo