Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

Vấn đề: Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững nền kinh tế của Việt Nam

MỤC LỤC BÀI VIẾT

LỜI MỞ ĐẦU

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới. Là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia.

Mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006-2010 của Việt Nam là “đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển. Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất văn hoá, tinh thần của nhân dân.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức. Tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2010. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền. Toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.”

Muốn Việt Nam đứng vững trên con đường phát triển thì cần phải hiểu đúng nghĩa về tăng trưởng. Phát triển kinh tế và phát triển bền vững. Vì vậy em xin trình bày về vấn đề: “ Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững nền kinh tế của Việt Nam”

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế
Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lí luận về phát triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới. Là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong từng giai đoạn của mỗi quốc gia.

Tăng trưởng kinh tế ( tăng trưởng GDP). Là một trong những tiêu chí quan trong nhất phản ánh sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nói chung khi tốc độ tăng trưởng GDP cao. Thì sức cầu của nền kinh tế tăng lên. Ngược lại tốc độ tăng trưởng thấp thì sức cầu của nền kinh tế có chiều hướng giảm.

Để đạt được sự tăng trưởng kinh tế tốt nhất là đề đạt được sự tăng trưởng ở mức cao. Thì cần có sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành vĩ mô và điều khiển vi mô. Kết hợp nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Vận dụng các quy luật kinh tế và sử dụng các công cụ đòn bẩy như thuế, tiền tệ, lãi suất, việc làm… Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cực kỳ quan trọng. Liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia. Bởi thế, chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho sự tăng trưởng kinh tế. Coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề khác. Trên cơ sở giải quyết vấn đề tảng trưởng kinh tế tạo ra nhiều của cải mới. Người ta mới có thể giải quyết hàng  loạt vấn đề khác như cân  bằng ngân sách. Đầu tư chiều sâu, phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm. Chống  lại các loại tội phạm, đảm bảo ngân sách cho quốc phòng an ninh… Ngược lại nếu không đạt được sự tăng trưởng kinh tế ở mức độ cần thiết. Thì trong xã hội sẽ có khả năng nảy sinh hàng loạt vấn đề rất nan giải. Bài học của Việt Nam

trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng. (khoảng những năm 1976 – 1986) đã cho ta thấy rõ vai trò của sự tăng trưởng kinh tế quan trọng như thế nào

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế (economic growth) là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định.

Tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa là chất lượng cuộc sống tăng lên theo thời gian do mở rộng kiến thức và cải thiện hoạt động sản xuất.

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Nền kinh tế toàn hay nói chung hay nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau dù ít hay nhiều. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Bao gồm hai nhóm chính là nhóm nhân tố kinh tế và nhóm nhân tố phi kinh tế.

1.3  Nhóm nhân tố kinh tế

Nhóm nhân tố kinh tế là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra của nền kinh tế. Xuất phát của nghiên cứu được bắt đầu bằng hàm sản xuất tổng quát:

Y=F(Xi)

Trong đó:

Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc vào tổng cầu của nền kinh tế)

Xi là giá trị các biến số đầu vào (liên quan trực tiếp đến tổng cung). Từ đó ta xét cụ thể hai nhóm nhân tố tác động:

  • Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung

Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu. Đó là: Vốn (K), Lao động (L), Tài nguyên, đất đai (R), Công nghệ kỹ thuật (T)

  • Vốn (K)

Đứng trên góc độ vĩ mô. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị). Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm: Vốn cố

định (nhà máy, công xưởng, trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng. Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng) và vốn lưu động. (tồn kho của tất cả các loại hàng hóa).

Mặt khác, để duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất phải có một khoản chi phí gọi là vốn đầu tư sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động.

  • Lao động (L)

Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế. Việc nâng cao vốn nhân lực sẽ làm cho việc tổ chức lao động. Việc ứng dụng công nghệ có hiệu quả. Làm cho năng suất lao động tăng và từ đó là tăng hiệu quả sản xuất.

Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô. Số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao. Do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp.

  • Tài nguyên, đất đai (R)

Tài nguyên, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển. Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế. Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng. Nhất là với các nước đang phát triển.

  • Công nghệ kỹ thuật (T)

Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:

Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức. Tức là nắm bắt kiến thức khoa học. Nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm. Quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật.

Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu. Thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất.

Trong suốt lịch sử loài người. Tăng trưởng kinh tế rõ ràng không là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản. Ngược lại, nó là quá trình không ngừng

thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn. Nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn.

Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin. Công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.

Các nhân tố tác động đến tổng cầu

Các yếu tố: khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán (tổng cầu AD) là các yế tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế.

Kinh tế học vĩ mô đã cho trấy có 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu, bao gồm:

– Chi cho tiêu dùng cá nhân (C): bao gồm các khoản chi cố định, chi thường xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh.

  • Chi tiêu của Chính phủ (G): Bao gồm các khoản mục chi mua hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ.
  • Chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế. Bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động.
  • Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu : Thực tế, giá trị hàng hoá xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước. Còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố yếu tố nguồn lực trong nước.

Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và. Do đó, sự thay đổi của một trong 4 nhân tố cũng đều có thể làm cho GDP thay đổi. Sự thay đổi đó thể hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế.

1.4.Các nhân tố phi kinh tế

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

 Đặc điểm văn hoá – xã hội

Đây là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trình phát triển của đất nước. Nhân tố văn hoá xã hội bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học. Lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán…Trình độ văn

hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia.

Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững. Thì đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hoá phải được coi là những đầu tư cần thiết. Và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất.

  • Nhân tố thể chế chính trị – kinh tế – xã hội

Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh. Tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.

Thể chế được biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng nhằm điều chỉnh các mới quan hệ kinh tế. Chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triển. Các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp. Các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện.

  • Cơ cấu dân tộc

Trong cộng đồng quốc gia, có các tộc người khác nhau cùng sống, các tộc người có thể khác nhau về chủng tộc (sắc tộc, bộ tộc), khác nhau về khu vực sinh sống     ( miền núi, đồng bằng, trung du) và với quy mô khác nhau so với tổng dân số quốc gia (thiểu số, đa số..). Do có những điều kiện sông khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất, về mức sống vật chất, về vị trí địa lý và địa vị chính trị – xã hội trong cộng đồng.

Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể đem đến những biến đổi có lợi cho dân tộc này. Nhưng bất lợi cho những dân tộc kia. Đó chính là những nguyên nhân nảy sinh xung đột giữa các dân tộc. Ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế đất nước.

Do vậy phải lấy tiêu chuẩn bình đẳng. Cùng có lợi cho tất cả các dân tộc,nhưng lại bảo tồn được bản sắc riêng và các truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc. Khắc phục được xung đột và mẩt ổn định chung của cộng đồng. Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển.

 Cơ cấu tôn giáo

Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc. Mỗi tộc người đều theo một tôn giao. Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo. Các dân tộc ít người ít tiếp xúc với thế giới hiện đại thường tôn thờ các thần linh tuỳ theo quan niệm .Mỗi tôn giáo còn chia ra

làm nhiều giáo phái. Ngoài ra còn có nhiều đạo giáo riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ.

Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lí tư tưởng riêng. Bám sâu vào cuộc sống của dân tộc. Những ý thức tôn giáo thường là cố hữu. Ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế xã hội. Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ của xã hội tuỳ theo mức độ. song có thể là sự hoà hợp , nếu có chính sách đúng đắn của Chính phủ.

CHƯƠNG 2 : Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Với sự biến động và thay đổi không ngừng của nền kinh tế thế giới. Việt Nam cũng là 1 trong những nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của những tác dộng tiêu cực và tích cực của nền kinh tế thế giới mang lại. Tuy nhiên bằng những nỗ lực và các chính sách đúng đắn. Việt Nam đang dần khẳng định vai trò cũng như sự lớn mạnh. Của nền kinh tế nước nhà trên bản đồ kinh tế các nước hiện nay.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

2.1  Tổng quan về thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Sau rất nhiều thăng trầm trong lịch sử đến nay. Có thể khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển. Tuy nhiên còn phụ thuộc lớn vào công nghiệp du lịch. Xuất khẩu thô và các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Hệ thống kinh tế Việt Nam là 1 hệ thống kinh tế hỗn hợp. Khi mà nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển và thị trường hóa. Thì ta vẫn thấy sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế còn khá cao. Hiện nay, nhà nước vẫn thực hiện việc điều chỉnh giá cả kiểu hành chính với 1 số mặt hàng thiết yếu như yêu cầu các công ty. Doanh nghiệp điều chỉnh mức đầu tư giá cả xăng dầu. Kiểm soát nguyên vật liệu xây dưng như sắt thép, xi măng,..

Việt Nam là 1 nước có nhiều thành phần kinh tế như : kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tập thể. kinh tế tư bản nhà nước,.. Và những khu vực này có sự tăng trưởng không giống nhau khi mà nền kinh tế nhà nước. Và nền kinh tế tập thể tăng trưởng chậm nhưng ngược lại. Với đó nền kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh.

Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (3 ngành kinh tế lớn) chính như sau:

  • Ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
  • Ngành : Công nghiệp (bao gồm cả công nghiệp khai thác mỏ, khoáng sản. Công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dưng, điện nước, sản xuất và phối khí,..)
  • Dịch vụ, thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, y tế, giáo dục…

Hiện nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam đang nằm trong top 40 nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới và đứng ở vị trí thứ 4 trong ASEAN. Với năm 2020 vừa qua tuy là ảnh hưởng về dịch covid nhưng GDP đầu người đạt mức 3500USD/năm đã đưa Việt Nam vươn lên top 10 quốc gia tăng cường cao nhất thế giới, là 1 trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới hiện nay, đây được coi là 1 sự nỗ lực và là 1 niềm vinh hạnh của 1 quốc gia.

2.2  Các vấn đề liên quan đến kinh tế Việt Nam hiện nay

Nền kinh tế nước ta hiện nay tuy phát triển khá ổn định. Nhưng vẫn còn gặp rất nhiều thử thách từ trong và ngoài nước. Chỉ khi hiểu và tận dụng rõ những lợi thế. Thì ta mới có thể vươn lên và trở thành 1 trong những nước có nền kinh tế mạnh trong tương lai.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

 Ảnh hưởng của dịch covid -19 tác động đến nền kinh tế Việt Nam

Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta. Nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020. của Thủ tướng Chính phủ. “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng. Chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh. Và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm. Kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu. Trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019. Và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%). Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019. Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm.

Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% – đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội.

Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước – mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 – 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8%. Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7%.

Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu.

Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực  FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7%. Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9%.

Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020. Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

2.2.1  Những thuận lợi của nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Hiện nay tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng khá ấn tượng và vững chắc. Theo đó, ta có thể thấy mức độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người từ giai đoạn 2011 – 2016. Đã thay đổi rõ nét và cho đến hiện tại mức tăng ấy vẫn luôn giữ được đúng với các mục tiêu được đề ra. Theo các đánh giá từ

U.S. New & World Report. Việt Nam hiện nay đang có 1 môi trường ổn định và tích cực về mặt kinh tế và chính trị. Duy trì mức tăng trưởng GDP ổn định. Kiểm soát tốt lạm phát và các chính sách cải thiện nợ xấu, thâm hụt ngân sách cũng được đề ra 1 cách hợp lý

Bên cạnh đó Việt Nam cũng là 1 trong những nước luôn có thành tích tốt trong việc xuất siêu. Nhiều mặt hàng của Việt Nam với số lượng lớn liên tục thâm nhập các thị trường lớn trên thế giới và được đón nhân 1 cách khá tốt

Không chỉ thu nhập bình quân đầu người tăng rõ rệt mà tỉ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn 1,45%. Việt Nam đã tạo nên 1 huyền thoại trong công tác giảm nghèo khi chỉ số HDI năm 2019 là 0,63. 1 trong những nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất thế giới.

Ngoài ra những thuận lợi còn đến từ cuộc cách mạng 4.0. Cũng như sự gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế lớn trên thế giới như hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA). Và Hiệp định đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Theo Báo cáo ADO, năm 2020. GDP của Việt Nam tăng trưởng 2,9% – mức tăng trưởng thấp nhất của nước ta trong thập niên vừa qua. Tuy vậy, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới trong năm qua. Kết quả này là nhờ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc chỉ đạo kiểm soát thành công dịch bệnh COVID-19.

Cụ thể, theo dự báo của ADB, công nghiệp sẽ tăng 9,5% trong năm 2021. Đóng góp 3,5 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Khu vực này có bước khởi động mạnh mẽ ngay trong quý I/2021. Tăng 6,3% so với 3 tháng đầu năm 2020.

Sự phục hồi của các đối tác thương mại lớn sẽ làm tăng nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu. Xây dựng sẽ tăng nhanh khi Chính phủ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án hạ tầng lớn trong năm 2021. Và lãi suất thấp kích thích hoạt động xây dựng bất động sản.

Khu vực dịch vụ sẽ phục hồi tăng trưởng ở mức 6% trong năm 2021. Đóng góp 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP.

Khu vực nông nghiệp cũng sẽ hoạt động mạnh hơn trong năm nay nhờ các cải cách cơ cấu được duy trì. Cải thiện tiếp cận thị trường đối với hàng nông sản xuất khẩu và giá lương thực toàn cầu cao hơn.

Đầu tư gia tăng sẽ là động lực tăng trưởng then chốt trong năm nay và năm sau. Thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát COVID-19. Và Luật Đầu tư ban hành tháng 01/2021 được kỳ vọng góp phần giảm bớt các rào cản về kinh doanh. Thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng tổng vốn đầu tư toàn xã hội sẽ tiếp tục được đẩy mạnh nhờ đầu tư tư nhân. Vốn đã tăng đáng kể, với yếu tố xúc tác là mặt bằng lãi suất thấp và chi tiêu công tăng.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

2.2.2  Những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển nền kinh tế

Thách thức lớn nhất mà nên kinh tế nước ta đang gặp phải đó là nên kinh tế thế giới có độ mở cao. Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp từ xu hướng tăng trưởng chậm của nền kinh tế tế thế giới. Và việc nới lỏng tiền tệ của 1 số nước lớn. Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung. Các khoản nợ xấu, thiên tai – dịch bệnh,..

Việt Nam còn chịu những sụ tác động của xu thế đa cực. Gia tăng tính kết nối khu vực , nổi lên của Châu Á. Và các sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Bên cạnh những thuận lợi và các kết quả to lớn nước ta đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cũng như thử thách. Trong việc phát triển 1 nền kinh tế bền vững và đạt được những mục tiêu được đặt ra như :

  • Quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế chưa được đồng bộ. Và đạt được các kết quả mạnh mẽ trong lĩnh vực hoàn thiện nền kinh tế thị trường. Các hệ sinh thái để phát triển doanh nghiệp vượt bậc. Các bất cập về thể chế

đất đai, quyền tài sản,.. vẫn còn chậm trong quá trình giải quyết thủ tục. Và các vấn đề liên quan dẫn đến những hạn chế cho sản xuất.

  • Dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động vẫn đang diễn ra với tốc độ khá chậm
  • Các vùng kinh tế trọng điểm vãn chưa phát huy được tối đa vai trò cũng như động lực tăng trưởng của mình
  • Về cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch kém lành mạnh, không cân bằng.

Bàn về tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 mức tăng trưởng 5,64% là chưa đạt được như kỳ vọng nhưng mà so với quốc tế, so với khu vực thì đây là một tỷ lệ rất cao. Kết quả này chưa được như kỳ vọng và thực trạng kinh tế ở thời điểm này, ở đầu quý III/2021 này còn xấu hơn rất nhiều.

Sự phân hóa rất lớn trong sự phát triển của các khu vực trong nền kinh tế. Trong khi khu vực kinh tế đối ngoại phục hồi rất mạnh mẽ với tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao, đến hơn 30% so với năm ngoái thì khu vực kinh tế trong nước lại rơi vào tình trạng trầm lắng do sức mua rất yếu và đây chính là vấn đề.

Số liệu được đại biểu đưa ra cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm nay gần như dậm chân tại chỗ so với cùng kỳ 2 năm trước. Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ chỉ tương đương tốc độ tăng trưởng thấp của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp.

Theo đại biểu, từ trước đến nay nông – lâm – ngư nghiệp luôn là khu vực tăng trưởng thấp nhất và dịch vụ bao giờ cũng là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất nhưng 6 tháng đầu năm nay tốc độ 2 khu vực này là tương đương và tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ thì kém xa, chưa bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp, xây dựng.

Dịch bệnh COVID-19 bùng phát, các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do các biện pháp giãn cách xã hội đang được tăng cường. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch hàng không, nhà hàng, khách sạn. Vận tải đang chết dần, chết mòn và khả năng nhiều doanh nghiệp trong khu vực này sẽ không có khả năng vực dậy sau đại dịch. Nếu không có những biện pháp để hỗ trợ thiết thực và mạnh mẽ cho khu vực này.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

2.3  Mục tiêu kinh tế những năm tới của Việt Nam

Với mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra trong vòng 10 năm tới. Việt Nam sẽ trở thanh 1 nền kinh tế đang phát triển có nền công nghiệp hiện đại. Có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 – 7%/ năm. Đến năm 2025 GDP bình quân đầu người đạt 4700-5000USD/năm. Đóng góp năng suất của các thành

phần tổng hợp vào tăng trưởng khoảng 45%, tỉ trọng tăng trưởng chế biến. Chế tạo đóng góp trên 25%, tỉ lệ đô thị hóa khoảng 45%. Kinh tế số đạt khoảng 20%.

Tập trung thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch COVID-19. Vừa phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng căn cứ vào tình hình thực tế và địa bàn cụ thể để lựa chọn ưu tiên. Quyết liệt triển khai các giải pháp phòng, chống dịch. Khẩn trương triển khai chiến lược vắc-xin toàn diện, hiệu quả. Tổ chức chương trình tiêm chủng vắc-xin Covid-19. Phấn đấu đạt miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021, đầu năm 2022.

Theo mục tiêu đề ra. Đảng và Nhà nước cũng rất quyết liệt về vấn đề khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực. Tạo động lực mới cho sự phát triển. Tiếp tục thực hiện các đổi mới mạnh mẽ về tư duy. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường ,.. Kịp thời tháo gỡ các khó khăn , vướng mắc. Khơi dậy mọi tiềm năng về nguồn lực. Tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững.

Tăng cường huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án đầu tư của mọi thành phần kinh tế còn tồn đọng, Kéo dài, tạo nguồn lực phát triển. Đầu tư công trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, hiện đại. Tập trung 03 đột phá chiến lược, lĩnh vực ưu tiên, vùng động lực, vùng khó khăn. Khu vực chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu. Các công trình, dự án trọng điểm có sức lan tỏa cao. Bảo đảm cơ cấu đầu tư hài hòa, hợp lý. Hiệu quả giữa các vùng, miền, lĩnh vực. Thu hẹp chênh lệch vùng miền và khoảng cách giàu – nghèo…

CHƯƠNG 3 : Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

3.1  Tổng quan kinh tế vĩ mô giai đoạn 2016 – 2020

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát. Chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 bình quân 6,8%/năm. Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh. Nhưng tăng trưởng cả năm 2020 đạt 2,91%. Đây là mức tăng trưởng cao hàng đầu thế giới. Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015.

Đặc biệt theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN. GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD. Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8%/năm. Cao hơn giai đoạn 2011-2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30-35%).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm từ 18,6% năm 2011 xuống còn dưới 4% trong giai đoạn 2016-2020. Tỷ giá, thị trường ngoại hối khá ổn định; lãi suất có xu hướng giảm dần. Cán cân thanh toán thặng dư, hệ số tín nhiệm quốc gia được cải thiện.

3.2  Thành tựu trong công cuộc thay đổi nền kinh tế 2016-2020

Báo cáo về giai đoạn 5 năm vừa qua, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định. Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Chất lượng tăng trưởng được nâng lên. Các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 – 2020 đạt khá cao. Bình quân 6,8%/năm. Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD. Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 – 2020 tăng 5,8%/năm. Cao hơn giai đoạn 2011 – 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 – 35%).

Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu,. Giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động,.. Đồng thời, chúng ta tiếp tục duy trì và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực biến động mạnh. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm từ 18,6% năm 2011 xuống còn dưới 4% trong giai đoạn 2016 – 2020.

3.3  Tăng trưởng kinh tế năm 2020: Vượt chỉ tiêu

Mặc dù kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, nhưng tăng trưởng của Việt Nam năm 2019 vẫn đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội giao, thuộc nhóm nước cao nhất trên thế giới và gấp 2,5 lần mức tăng của lạm phát. GDP năm 2020 tăng 7,02%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%. Đây là năm thứ hai liên tiếp, GDP đạt trên 7% kể từ năm 2011.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

3.4   Nguyên nhân

Về ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thanh khoản của tổ chức tín dụng được đảm bảo và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt.

Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như cơ chế phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chỉ số CPI bình quân năm giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018; năm 2019, giảm còn 2,79%.

Mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định và giảm dần. Phù hợp với bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước.

Trong giai đoạn 2016- 2018, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia tăng (Fed 9 lần tăng lãi suất từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2018, từ mức gần 0% lên mức 2,25- 2,5%), NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý.

Điểm khá đặc biệt trong cách thức điều hành tỉ giá của NHNN so với trước đây, đó là, đã sử dụng những công cụ mang tính thị trường hơn là các công cụ mang tính áp đặt hành chính. Điều này thể hiện quyết tâm theo đuổi cơ chế tỉ giá trung tâm linh hoạt và định hướng thị trường của ngành NH. Nhờ đó, tỉ giá được duy trì ổn định, thanh khoản thị trường được đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, dự trữ ngoại hối được tăng cường.

Thu NSNN trong giai đoạn 2016- 2020 đều vượt dự toán; chi NSNN chuyển biến tích cực, bội chi được kiểm soát tốt, nợ công nằm trong giới hạn an toàn cho phép. Bội chi NSNN so với GDP giảm mạnh từ mức 5,52% năm 2016 xuống 3,46% năm 2018 và dự toán bội chi năm 2016 là 3,6%; năm 2020 là 3,44%. Như vậy, bình quân cả giai đoạn 2016- 2020, bội chi NSNN khoảng 3,6

– 3,7%, hoàn thành mục tiêu Quốc hội đề ra ở mức 4% đến năm 2020.

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

3.5   Đánh giá thực tiễn đầu tư công giai đoạn 2016-2020 có thể rút ra nhận định sau:

  • Đầu tư nhà nước đã phát huy vai trò trong những giai đoạn kinh tế khó khăn và là động lực quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, có tác động lan tỏa lớn, nhất là đối với các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng…
  • Cơ cấu đầu tư công đã có những chuyển biến tích cực. Khu vực này đã tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý bất hợp lý vùng miền; chú trọng đầu tư cho các ngành nghề có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế. Ngân sách nhà nước đã tập trung nhiều hơn cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ của người lao động. Cụ thể, trong tổng mức đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, đầu tư

cho phát triển cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ lệ khá lớn. Bình quân chiếm trên 90% tổng chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước.

  • đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng. Trong đó, phải kể đến Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Đầu tư công sửa đổi, bổ sung năm

3.6  Những tồn tại, hạn chế

Đầu tư công tại Việt Nam tuy đã đạt những kết quả tích cực, song thực tiễn cho thấy, hiện nay vẫn còn một số tồn tại hạn chế sau:

  • Đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải; hiệu quả đầu tư một số công trình hạ tầng chưa cao. So với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng với Việt Nam, thì hệ số suất đầu tư của Việt Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao. Thực tế này cho thấy, mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư còn thấp.
  • Cơ cấu đầu tư từ khu vực nhà nước hiện nay cũng còn nhiều hạn chế. đầu tư của Nhà nước hiện nay tập trung vào các ngành mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng tham gia. Nguồn vốn đầu tư còn dàn trải, tình trạng kéo dài tiến độ, thậm chí có dự án chậm so với tiến độ hàng chục năm, làm gia tăng chi phí đầu tư. Cơ cấu vùng miền trong đầu tư cũng chưa hợp lý, chất lượng quy hoạch phát triển chưa hiệu quả…

Nguyên nhân khách quan: Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

  • Là do tác động ảnh hưởng từ biến động của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, kinh tế trong nước suy giảm; tổng cầu yếu, dẫn đến việc huy động các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác phục

vụ cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội gặp nhiều khó khăn; Các tồn tại, bất cập về đầu tư công trong giai đoạn trước chưa thể xử lý dứt điểm ngay trong ngắn hạn; Các dự án, chương trình cũ, tồn đọng từ trước vẫn cần tiếp tục được xử lý, sắp xếp…

Nguyên nhân chủ quan: 

  • Thể chế pháp luật về đầu tư công chưa thực sự đồng bộ, thống nhất; chưa khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo giữa các quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư công; vẫn còn lúng túng trong việc triển khai Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn; cách hiểu và cách tiếp cận thực hiện của các bộ, ngành và địa phương còn khác nhau, dẫn đến mất nhiều thời gian trong hoàn thiện thủ tục các dự án đầu tư công.

Tóm lại: Phân tích theo góc độ các yếu tố đầu vào của tăng trưởng kinh tế ở trên đã cho thấy tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng với việc chú trọng đến yếu tố vốn vật chất . Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng trong những năm qua đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước nhiều thách thức to lớn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa 2016-2020.

Kết luận và giải pháp

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

Hiện nay, Đầu tư công vẫn được xác định là nguồn lực quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam trong thời gian tới. để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong giai đoạn mới (giai đoạn 2020-2030), Việt Nam cần tập trung triển khai một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công

Nghiêm túc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về đầu tư công. Khẩn trương rà soát, sửa đổi, những quy định của pháp luật về đầu tư công còn vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Thứ hai, tăng cường quản lý đầu tư công

, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác chuẩn bị đầu tư; tăng cường công tác rà soát để bảo đảm các chương trình. Dự án bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm được triển khai theo quy định của Luật Đầu tư công. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn dự phòng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Thứ ba, tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp

, các ngành và các địa phương trong triển khai thực hiện. Chú trọng công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư công và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư cụ thể. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công định kỳ hoặc đột xuất theo chế độ báo cáo quy định. Trong đó, phải đánh giá kết quả thực hiện, những tồn tại. Hạn chế và đề xuất kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết những khó khăn, vướng mắc.

Theo dõi, đôn đốc (chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu) đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân dự án. Kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết những khó khăn. Vướng mắc trong triển khai kế hoạch đầu tư công và thực hiện dự án. Chủ động báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn. Hàng năm để thúc đẩy giải ngân nâng cao hiệu quả đầu tư.

Thứ tư, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của nền kinh tế theo cơ chế thị trường.

Trong đó, đối với vốn đầu tư công cần tập trung đầu tư cho các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các chương trình mục tiêu và dự án trọng điểm, có ý nghĩa lớn, lan tỏa đến phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và liên vùng, liên địa phương. Đối với các nguồn vốn vay để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội (ODA, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước…): Cần tập trung ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, quy mô lớn và hiện đại; phát triển nguồn nhân

lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức.

Thứ năm, đổi mới đầu tư công phải hướng tới mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính nhà nước,

bảo đảm cho bộ máy hành chính hoạt động thông suốt, chuyên nghiệp và hiệu quả. Đầu tư công không chỉ có tác dụng cung cấp nguồn lực cho bộ máy công quyền hoạt động, quan trọng là phải thông qua đó tác động mạnh mẽ đến việc điều chỉnh tổ chức và tính hiệu quả của hoạt động bộ máy. Vì vậy, cần gắn việc đổi mới đầu tư công với xây dựng bộ máy trong sạch, vững mạnh phải được coi là một trong những mục tiêu cần chú trọng thực hiện.

Thứ sáu, thông qua cải cách, đổi mới hoạt động đầu tư công bảo đảm cho việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả hơn

. Thực tiễn cho thấy, hầu hết việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng đều do bộ máy công quyền từ trung ương đến địa phương đảm nhận. Nếu bộ máy công quyền thiếu trung thực, không minh bạch, nạn tham nhũng diễn ra tràn lan, thì việc sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng khó đạt được yêu cầu công bằng và hiệu quả. Do đó, vấn đề đặt ra là cải cách, đổi mới hoạt động đầu tư công hướng theo mục tiêu bảo đảm công bằng và hiệu quả.

Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Về đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là cơ chế quản lý vốn, tách bạch tài chính doanh nghiệp với tài chính nhà nước. Đối với tài chính của các cơ quan công quyền và các đơn vị sự nghiệp công lập, nội dung đổi mới cần tập trung nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn việc đổi mới với công cuộc cải cách hành chính và việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng…

Thứ tám

, nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát kết quả quản lý và sử dụng đầu tư công. Quy định rõ ràng trách nhiệm vật chất của những người đứng đầu cơ quan chính quyền nhà nước mỗi cấp trước kết quả quản lý đầu tư công của cấp đó. Đổi mới công tác thanh tra, giám sát tài chính trong toàn bộ quá trình quản lý tài chính công

Tiểu luận môn Phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế

Danh mục tham khảo :

Lyly Tran. (2012). Bài giảng 3: Tăng trưởng kinh tế. [Bài trình chiếu PowerPoint]. Truy xuất từ trang web trực tuyến

Th.S Lê Thị Hoài Trinh. (2020). Bài giảng chương: Tăng trưởng kinh tế. [Bài trình chiếu PowerPoint].

PGS., TS. Nguyễn Thường Lạng. (2020, ngày 03 tháng 5). Đầu tư công giai đoạn 2010-2019 và những vấn đề đặt ra cho giai đoạn mới.

GDP     per     capita     (current     US$)                  Vietnam.            Truy          xuất       từ: https://data.worldbank.org/

Viện Khoa học Lao động và xã hội. (2018). Xu hướng Lao động và xã hội Việt Nam 2012-2017.

Contact Me on Zalo